Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Lý (Trường Đại học Luật Hà Nội, người hướng dẫn: ThS. Phạm Thị Huyền, năm 2023) tập trung nghiên cứu cơ chế pháp lý điều chỉnh hoạt động quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Trong giai đoạn 2018–2022, quy mô vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp tại Việt Nam ghi nhận sự gia tăng từ 1.001 tỷ đồng năm 2018 (chiếm 28% GDP) lên 1.837 tỷ đồng năm 2022 (chiếm 18% GDP). Tuy nhiên, theo Báo cáo số 482/BC-CP ngày 30/09/2022 của Chính phủ, hoạt động tài chính của khối doanh nghiệp này bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng: tổng số nợ phải trả lên đến 2.050.044 tỷ đồng (tăng 6% so với năm 2021, chiếm 52% tổng tài sản doanh nghiệp). Bên cạnh đó, các sai phạm quản lý xảy ra tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) hay vụ án tại Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn (CNS) làm thất thoát 22 tỷ đồng đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xem xét lại khung pháp luật hiện hành.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về quản lý vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp tổng quát ở Việt Nam.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng, từ đó chỉ ra những thiếu sót, bất cập và nguyên nhân trong quá trình thi hành.
  3. Đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  • Các vấn đề lý luận về quản lý vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp dựa trên các quan điểm, học thuyết khoa học pháp lý.
  • Toàn bộ các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh hoạt động quản lý vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.

Phạm vi nghiên cứu: Về nội dung và không gian, khóa luận tập trung nghiên cứu pháp luật về quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nói chung trên phạm vi cả nước, không giới hạn riêng biệt ở một loại hình doanh nghiệp cụ thể; về thời gian, đề tài khai thác dữ liệu thực tiễn và văn bản pháp quy cập nhật đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên việc phân tích khái niệm vốn dưới các giác độ kinh tế học, tài chính và pháp lý. Tác giả chỉ ra hạn chế của Khoản 8 Điều 3 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 (Luật QLSDVNN năm 2014) khi chỉ tiếp cận theo phương thức liệt kê nguồn gốc, từ đó đưa ra khái niệm bản chất: Vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản có nguồn gốc từ Ngân sách nhà nước (NSNN) hoặc các quỹ khác do Nhà nước quản lý, do Nhà nước làm chủ sở hữu, được Nhà nước trực tiếp đầu tư vào doanh nghiệp dưới các hình thức pháp luật cho phép nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng làm cơ sở phân tích bao gồm:

  • Các đạo luật cơ bản: Hiến pháp năm 2013, Luật QLSDVNN năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020 (và các đạo luật tiền nhiệm 1999, 2003, 2005, 2014), Luật Đầu tư năm 2020, Luật Chứng khoán năm 2019, Luật Kế toán năm 2015, Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Các văn bản dưới luật: Nghị định số 91/2015/NĐ-CP (được sửa đổi bởi các Nghị định số 32/2018/NĐ-CP, 121/2020/NĐ-CP, 140/2020/NĐ-CP), Nghị định số 87/2015/NĐ-CP, Nghị định số 10/2019/NĐ-CP, Nghị định số 131/2018/NĐ-CP, Nghị định số 159/2020/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định số 48/2023/NĐ-CP), Thông tư số 85/2021/TT-BTC, Thông tư số 200/2014/TT-BTC.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng kết hợp: phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp hệ thống hóa, phương pháp so sánh pháp luật, phương pháp tổng hợp số liệu thống kê và phương pháp tiếp cận từ thực tiễn thi hành thông qua các báo cáo định kỳ của Chính phủ và các vụ án kinh tế thực tế. Nguồn dữ liệu thực chứng được trích xuất từ Báo cáo số 482/BC-CP của Chính phủ, số liệu công bố của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (CMSC), Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quản lý vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và pháp luật về quản lý vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp

Chương 1 làm rõ các phạm trù khoa học pháp lý về vốn và quản lý vốn nhà nước:

  • Phân định ranh giới giữa quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với phần vốn đầu tư trực tiếp vào doanh nghiệp với quyền tài sản của chính doanh nghiệp độc lập (vốn do doanh nghiệp tự mang đi đầu tư vào doanh nghiệp khác).
  • Xác định cấu trúc quan hệ quản lý gồm ba yếu tố: Chủ thể quản lý (Nhà nước thông qua cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành và cơ quan đại diện chủ sở hữu), Đối tượng quản lý (số vốn đầu tư, bản thân doanh nghiệp và tác động kinh tế - xã hội), Khách thể quản lý (các doanh nghiệp tiếp nhận vốn đầu tư).
  • Hệ thống hóa các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý vốn: mô hình phát triển kinh tế - xã hội, môi trường kinh tế vĩ mô, mức độ mở cửa hội nhập quốc tế, tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, năng lực bộ máy quản lý và mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp (kinh doanh sinh lời hoặc công ích).
  • Khái quát tiến trình lịch sử nguồn pháp luật qua các thời kỳ: từ giai đoạn kế hoạch hóa tập trung bao cấp (1976–1986), thời kỳ đổi mới với Hiến pháp năm 1992, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003, cho đến bước ngoặt hoàn thiện khung khổ pháp lý đồng bộ với Hiến pháp năm 2013 và Luật QLSDVNN năm 2014.

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp ở Việt Nam

Tác giả phân tích chuyên sâu 5 nhóm quy định pháp luật thực định và đối chiếu thực tiễn:

  1. Nguyên tắc quản lý vốn: Phân tích 7 nguyên tắc tại Điều 5 Luật QLSDVNN năm 2014, trọng tâm là nguyên tắc không can thiệp trực tiếp vào hoạt động điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và quản lý thông qua người đại diện.
  2. Địa vị pháp lý của đại diện chủ sở hữu: Khái quát mô hình 3 nhóm cơ quan đại diện chủ sở hữu gồm UBQLV (CMSC), các Bộ/UBND cấp tỉnh và SCIC; quyền hạn, nghĩa vụ của Người đại diện chủ sở hữu trực tiếp (tại doanh nghiệp 100% vốn) và Người đại diện phần vốn nhà nước (tại CTCP, Công ty TNHH hai thành viên trở lên).
  3. Đầu tư vốn ra ngoài, chuyển nhượng và phân phối lợi nhuận: Thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư trên 50% vốn chủ sở hữu, quy định cấm đầu tư vào đơn vị có quan hệ gia đình với lãnh đạo; phương thức chuyển nhượng vốn theo thị trường và bán đấu giá cả lô theo Nghị định số 91/2015/NĐ-CP; cơ chế phân phối lợi nhuận sau thuế nộp trực tiếp vào NSNN từ năm 2016 thay thế việc trích nộp Quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp.
  4. Giám sát và đánh giá hiệu quả: Hệ thống 5 tiêu chí đánh giá DNNN theo Nghị định số 87/2015/NĐ-CP (Doanh thu; Lợi nhuận sau thuế và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu; Nợ quá hạn và khả năng thanh toán; Chấp hành chính sách pháp luật; Thực hiện sản phẩm, dịch vụ công ích) để phân loại doanh nghiệp nhóm A, B, C.
  5. Xử lý vi phạm và chế tài: Các quy định về xử lý kỷ luật cán bộ (Nghị định số 159/2020/NĐ-CP), xử phạt vi phạm hành chính, trách nhiệm hình sự (Điều 219, Điều 360 Bộ luật Hình sự năm 2015) và trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Về số liệu thực tiễn thi hành, tác giả trích dẫn số liệu toàn quốc năm 2022 từ Báo cáo số 482/BC-CP:

Tiêu chí phân loại doanh nghiệp Số lượng DN Vốn nhà nước đang đầu tư (tỷ đồng) Tổng tài sản (tỷ đồng) Vốn chủ sở hữu (tỷ đồng) Tổng nợ phải trả (tỷ đồng) Lợi nhuận trước thuế (tỷ đồng)
DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ 478 1.556.863 2.844.901 1.390.939 1.445.364 186.811
DN do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ 198 155.781 710.914 251.136 458.367 37.191
DN do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn trở xuống 151 8.193 106.607 37.506 68.077 4.721
Tổng cộng toàn quốc năm 2022 827 1.720.837 3.837.466 1.845.505 2.050.044 247.905

Phân tích số liệu cho thấy hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu (D/E) của khối doanh nghiệp có vốn nhà nước ở mức 1,11 lần; riêng nhóm doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chưa bảo toàn được vốn khi vốn chủ sở hữu (1.390.939 tỷ đồng) thấp hơn vốn đầu tư của chủ sở hữu (1.556.863 tỷ đồng). Đến tháng 8/2023, EVN dự kiến lỗ hơn 38.700 tỷ đồng, Vietnam Airlines lỗ hơn 4.500 tỷ đồng.

Các hạn chế pháp lý nổi cộm được khóa luận chỉ rõ:

  • Khái niệm "vốn nhà nước tại doanh nghiệp" gây tranh chấp khi không phân biệt tài sản của pháp nhân doanh nghiệp với tài sản công (điển hình là tranh luận pháp lý về Quỹ khen thưởng tại vụ án CNS năm 2023; vướng mắc cổ phiếu Vietnam Airlines do đất thuê).
  • Sự chồng chéo giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu dẫn đến sai phạm kéo dài (vụ thất thoát 5.700 tỷ đồng tại Tổng công ty 3/2 Bình Dương; vụ AVG - MobiFone).
  • Cơ chế xin ý kiến cơ quan đại diện chủ sở hữu làm triệt tiêu tính tự chủ, gây ách tắc dự án (dự án cao tốc Bến Lức - Long Thành của VEC bị đình trệ do vướng mắc thẩm quyền tiếp nhận vốn giữa Bộ Giao thông vận tải và CMSC).

Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật ở Việt Nam

Tác giả đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Định hướng: Tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng; bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật; tiếp cận các chuẩn mực quản trị quốc tế và phù hợp với thực tiễn kinh doanh Việt Nam.
  • Giải pháp hoàn thiện pháp luật:
    1. Hoàn thiện khái niệm "vốn nhà nước tại doanh nghiệp" theo hướng tách bạch tài sản của Nhà nước và vốn điều lệ đã chuyển giao cho doanh nghiệp quản lý, định đoạt theo Luật Doanh nghiệp.
    2. Phân định rạch ròi thẩm quyền, xóa bỏ tình trạng cơ quan quản lý ngành đồng thời làm đại diện chủ sở hữu; mở rộng quyền tự chủ cho Người đại diện phần vốn nhà nước.
    3. Hoàn thiện quy định về đầu tư ra ngoài, cơ chế thoái vốn theo lô và quy trình phân phối lợi nhuận sau thuế.
    4. Sửa đổi tiêu chí giám sát, đánh giá hiệu quả doanh nghiệp theo hướng kết hợp chỉ tiêu tài chính với nhiệm vụ công ích, tránh tuyệt đối hóa chỉ tiêu lợi nhuận ngắn hạn.
    5. Quy định rõ ràng cơ sở, mức bồi thường thiệt hại và trách nhiệm người đứng đầu trong quản lý vốn.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi: Kiện toàn bộ máy quản lý chuyên trách, chuẩn hóa năng lực cán bộ đại diện vốn và tăng cường thanh tra, giám sát công khai, minh bạch.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và cung cấp bức tranh toàn diện về hệ thống pháp luật quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp cùng các kết quả thi hành cụ thể:

  • Làm rõ kết quả hoạt động của UBQLV sau 5 năm thành lập: xử lý 259 công việc tồn đọng từ các Bộ chuyển giao; hoàn thành cổ phần hóa 14 doanh nghiệp với giá trị thu về 23.003 tỷ đồng (thặng dư 8.254 tỷ đồng, gấp 1,56 lần giá trị sổ sách); chỉ đạo thoái vốn tại 254 doanh nghiệp thu về 35.112 tỷ đồng (thặng dư 25.410 tỷ đồng, gấp hơn 3,5 lần giá trị sổ sách); ROE bình quân sau cổ phần hóa đạt 15,4% (tăng so với mức 12,4% giai đoạn trước).
  • Chỉ ra các lỗ hổng lập pháp mang tính bản chất: sự bất cập trong việc định danh các khoản nợ được bảo lãnh hoặc vốn tín dụng đầu tư phát triển thành "vốn nhà nước tại doanh nghiệp"; sự không tương thích giữa Luật QLSDVNN năm 2014 và Luật Doanh nghiệp năm 2020 về phạm vi định nghĩa doanh nghiệp nhà nước và cơ chế quản trị công ty cổ phần.
  • Đóng góp về mặt khoa học: Xây dựng định nghĩa khoa học giải thích rõ nội hàm "vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp", hệ thống hóa nguồn pháp luật và chỉ ra các quy luật vận động của quan hệ quản lý vốn nhà nước.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn: Luận giải nguyên nhân dẫn đến thất thoát, lãng phí qua các đại án kinh tế thực tế và kiến nghị phương hướng sửa đổi Luật QLSDVNN năm 2014 sát với yêu cầu thực tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận nghiên cứu các vấn đề pháp lý về quản lý vốn nhà nước ở cấp độ tổng quát áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp có vốn nhà nước. Do giới hạn về phạm vi của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân, đề tài chưa thể đi sâu vào các cơ chế quản lý tài chính mang tính đặc thù cao của từng ngành kinh tế chuyên biệt (như ngân hàng thương mại nhà nước, doanh nghiệp an ninh quốc phòng, hay các tổ chức tài chính đặc biệt).

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát các mô hình cơ quan quản lý vốn chuyên trách trên thế giới (như SASAC của Trung Quốc hoặc mô hình công ty đầu tư vốn nhà nước tại các nước phát triển) để đề xuất khung khổ pháp lý chi tiết phục vụ cho dự thảo Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp sửa đổi toàn diện thay thế Luật QLSDVNN năm 2014.

Giá trị tham khảo

Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng, Quản trị kinh doanh và Tài chính công làm tài liệu nghiên cứu về pháp luật doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài sản công.
  • Cán bộ pháp chế, kiểm soát viên, thành viên Hội đồng thành viên/Hội đồng quản trị và Người đại diện phần vốn nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty trong việc nhận diện rủi ro pháp lý và thực hiện đúng thẩm quyền đại diện chủ sở hữu.
  • Các nhà hoạch định chính sách tham khảo trong quá trình nghiên cứu, sửa đổi Luật QLSDVNN năm 2014 và các nghị định hướng dẫn thi hành.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "vốn nhà nước tại doanh nghiệp" theo Luật QLSDVNN năm 2014 bộc lộ những điểm bất cập chính nào?
Luật năm 2014 xây dựng khái niệm theo phương pháp liệt kê nguồn gốc thay vì bản chất pháp lý, dẫn đến sự lẫn lộn giữa tài sản của Nhà nước và tài sản của pháp nhân doanh nghiệp. Các khoản vốn vay do Chính phủ bảo lãnh hay vốn tín dụng đầu tư phát triển thực chất là nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp nhưng lại bị xếp vào vốn nhà nước. Bên cạnh đó, luật chưa làm rõ địa vị pháp lý của các quỹ nội bộ doanh nghiệp (như Quỹ khen thưởng, phúc lợi), gây tranh cãi pháp lý trong các vụ án hình sự.

2. Điểm nghẽn lớn nhất trong việc thực hiện quyền của Người đại diện phần vốn nhà nước theo quy định hiện hành là gì?
Người đại diện phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần hoặc công ty TNHH hai thành viên trở lên bị bó hẹp quyền quyết định khi Luật QLSDVNN năm 2014 bắt buộc mọi vấn đề thảo luận tại Đại hội đồng cổ đông đều phải báo cáo và xin ý kiến phê duyệt trước từ cơ quan đại diện chủ sở hữu. Cơ chế này biến người đại diện thành khâu trung gian truyền đạt, làm chậm trễ quá trình ra quyết định kinh doanh và giảm tính cạnh tranh của doanh nghiệp.

3. Tình trạng tài chính của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước năm 2022 theo Báo cáo số 482/BC-CP diễn ra như thế nào?
Năm 2022, cả nước có 827 doanh nghiệp có vốn nhà nước với tổng tài sản đạt 3.837.466 tỷ đồng và doanh thu 2.752.607 tỷ đồng. Tuy nhiên, tổng nợ phải trả lên đến 2.050.044 tỷ đồng (chiếm 52% tổng tài sản và cao hơn tổng vốn chủ sở hữu 1.845.505 tỷ đồng). Riêng 478 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ có tổng nợ phải trả là 1.445.364 tỷ đồng, trong khi vốn chủ sở hữu (1.390.939 tỷ đồng) thấp hơn vốn đầu tư của chủ sở hữu (1.556.863 tỷ đồng), cho thấy tình trạng chưa bảo toàn được vốn.

4. Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (CMSC) đạt được kết quả thoái vốn và cổ phần hóa như thế nào sau 5 năm hoạt động?
CMSC đã hoàn thành cổ phần hóa 14 doanh nghiệp (thu về 23.003 tỷ đồng, thặng dư 8.254 tỷ đồng so với giá trị sổ sách) và chỉ đạo thoái vốn tại 254 doanh nghiệp (thu về 35.112 tỷ đồng, thặng dư 25.410 tỷ đồng, gấp hơn 3,5 lần giá trị sổ sách). Doanh nghiệp sau cổ phần hóa đạt tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) bình quân 3 năm là 15,4%, tăng so với mức 12,4% của giai đoạn trước đó.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Lý đã phân tích một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực trạng pháp lý điều chỉnh hoạt động quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp tại Việt Nam. Thông qua việc đối chiếu giữa hệ thống quy phạm pháp luật với số liệu thống kê tài chính và các vụ án kinh tế thực tế, công trình đã chỉ rõ những xung đột thẩm quyền và lỗ hổng lập pháp dẫn đến thất thoát, kém hiệu quả trong sử dụng vốn. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp các luận cứ khoa học xác đáng, đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện chính sách và sửa đổi Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong giai đoạn mới.