Chương 1. Cơ sở lý luận về vốn lưu động và hiệu quả quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp Chương 2. Thực trạng hiệu qua quan lý vốn lưu động tại Công ty Cổ phan Hàn Lê Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động tại Công ty Cổ phần Hàn Lê DANH MỤC VIET TAT STT Ký tự Chữ viết đây đủ | TNHH Trách nhiệm hữu han 2 CP Cô phân 3 VLD Vốn lưu động 4 CTCP Công ty cổ hân 5 LN Lợi nhuận 6 DN Doanh nghiệp 7 SXKD Sản xuất kinh doanh 8 DT Doanh thu 9 BH Bao hiém CHUONG 1.
CO SO LY LUAN VE VON LUU DONG VA HIEU QUA QUAN LY VON LUU DONG TRONG DOANH NGHIEP 1. Những van dé cơ bản về vốn trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về vốn +“Von là giá trị đem lại thang du, là đầu vào của quá trình sản xuất” (theo quan điểm của Mác, trích giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lenin) Đề tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp nào cũng cần phải có tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất kinh doanh sẽ kết hợp những yếu té này lại dé tạo ra dịch vụ hay sản phẩm của mình.
Trong nên kinh tế hiện nay, dé có được các yếu tô trên thì doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền vốn cụ thé. Khi có vốn rồi thì doanh nghiệp mới có thể bắt đầu hoạt động và mua săm đầu tư các thiết bị, trả lương cho người lao động. Nhìn chung, vốn là toàn bộ giá tri vật chất được doanh nghiệp đầu tư dé tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn có thé là của cải vật chất do con người tạo ra và tích luỹ được; cũng có thê là những của cải mà thiên nhiên ban cho; và cũng có thể là dạng vô hình như phát minh hay bằng sáng chế, sức lao động.
Vai trò của von doi với doanh nghiệp Trong cuộc sống chúng ta thường hay nghe nói câu “Không thể nào đến được tới số 10 khi không bat dau từ số 0, số 1 cả”, tức là làm việc gì thì cũng phải có cái căn bản, cái tiền đề riêng của nó. Giống như việc để một đứa bé kêu được tiếng Mẹ, tiếng Bồ đầu tiên thì đứa bé đó cũng phải mắt 2- 3 năm hàng ngày nghe 2 từ này. Và hoạt động sản xuất kinh doanh cũng thế, muốn hoạt động thì cần phải có vốn trước tiên rồi mới bước qua được các quá trình cơ bản tiếp theo (mua bán nguyên vật liệu, sản xuất sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm.) Nếu là những doanh nghiệp tư nhân thì nguồn vốn này thuộc về sở hữu cá nhân. Nếu là công ty TNHH hay công ty Cổ phần thì thuộc sở hữu của tập thê.
Và sẽ thuộc sở hữu của nhà nước nêu đó là doanh nghiệp nhà 4 nước. Nhưng dù thuộc về sở hữu của ai thì vai trò của vốn cũng vẫn không thay đổi. Nhìn chung, có 4 vai trò cơ bản của vốn như sau: + Đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh Như đã nói phía trên, doanh nghiệp tồn tại ở rất nhiều hình thức: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty | thành viên, công ty liên doanh, công ty Cổ phan, công ty TNHH,.Nhung du tôn tại ở hình thức gì thì để quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra, doanh nghiệp/công ty đều phải có lượng vốn nhất định. Đây chính là điều kiện mà doanh nghiệp/công ty phải xem xét đầu tiên, được coi là bước tối thiểu dé doanh nghiệp/công ty có thê ra đời, tồn tại cũng như phát triển.
Tiếp theo, dé tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp/công ty nào cũng cần có vốn kinh doanh, mức độ tùy theo quy mô hoạt động, doanh nghiệp/công ty cũng sẽ dựa vào vốn kinh doanh này để có tên gọi của mình. Khi có vốn thì doanh nghiệp mới có thé trang bị những vật dụng hay thiết bi, cơ sở vật chat cần thiết nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Ví dụ, một doanh nghiệp sản xuất thực phẩm sẽ cần vốn dé trang bị các máy móc sản xuất thức ăn theo dây chuyên; doanh nghiệp xây dựng sẽ cần nguồn này để mua những thiết bị hay nguyên vật liệu thi công như sắt, thép, bê tông hay mua/thuê những phương tiện vận chuyên phục vụ quá trình xây dựng. + Đánh giá được quy mô cũng như chất lượng của doanh nghiệp - Về quy mô: Vốn là một yếu tố quan trọng dé có thé đánh giá được quy mô của doanh nghiệp.
Vốn nhiều thì quy mô hoạt động của doanh nghiệp rộng hơn do có nhiều tiềm lực về tài chính, vốn ít thì ngược lại. Ngoài ra vốn lớn hay nhỏ còn quyết định được khả năng có thể mở rộng được thị trường hay không. - Về chất lượng: Nguồn vốn này cũng là điều kiện để doanh nghiệp có thể đảm bảo được tiềm năng các yếu tố đầu vào, như nguyên vật liệu hay máy móc hoạt động. Vì doanh nghiệp nào cũng cần phải đảm bảo được cả yếu tố nhân công lẫn máy móc nên nếu một doanh nghiệp có ít vốn và vẫn phải đảm bảo được hai yêu tô trên thì buộc phải giảm chât lượng máy móc xuông và 5 thuê thêm nhân công.
Ngược lại, một doanh nghiệp có nguồn vốn déi dao thì sẽ có khả năng đầu tư vào những công nghệ hiện đại, đảm bảo về lâu về dài cũng như giảm bớt được chỉ phí thuê nhân công hay thời gian sản xuất. Quá trình hoạt động ngoài vấn đề sản xuất thì còn có cả kinh doanh cũng như tiêu thụ sản phẩm và vốn sé đảm bảo cho quá trình này có thé diễn ra liên tục cũng như dam bao số lượng và chất lượng của sản phẩm. Trong nền kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp muốn tôn tại và phát triển thì phải tập trung đầu tư vào chất lượng cũng như công nghệ tiên tiến, điều này sẽ tăng năng suất lao động cũng như chất lượng sản phẩm. Khi đó, doanh nghiệp sẽ vừa có thể cạnh tranh về giá, vừa cạnh tranh về chất lượng + Anh hưởng đến phạm vi hoạt động Khi có tiềm lực về nguồn vốn thì những yếu tố như máy móc, dây chuyền, công nghệ hay hệ thống phân phối san pham,.déu được dam bao.
Khi đó, Công ty sẽ phải xem xét về việc mở rộng phạm vi hoạt động, da dạng hóa các ngành nghề có liên quan dé phát huy tối đa các tiềm lực và tài sản vốn có của mình. + Hạn chế nhiễu rủi ro Trong quá trình hoạt động kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp trong mọi ngành nghề đều có nguy cơ gặp phải những rủi ro hay tổn that do sự biến động của thị trường kinh tế, thời tiết, con người.Việc đảm bảo được sự ôn định và quy mô của nguồn vốn sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiêu sự ảnh hưởng của những rủi ro trên đặc biệt là ngân hàng, một ngành kinh doanh vô cùng rủi ro do luôn có sự biến động không lường trước được. Nhìn chung, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vốn có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đây mạnh kinh doanh cũng như duy trì hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời tài năng của ban lãnh đạo doanh nghiệp cũng được biểu hiện qua nguồn lực này, do nó chính là tiền đề dé ban lãnh đạo có thể mạnh dạn thực hiện các chiến lược kinh doanh liều lĩnh giúp nâng cao vi thế và giá trị của công ty.
Trong những năm vừa qua, thực tiễn đã cho thấy doanh nghiệp vào có nguồn vốn càng lớn và 6n định thì càng chủ động được trong việc kinh doanh của mình. Ngược lại, các cơ hội kinh doanh thường bị các doanh nghiệp ít vốn đánh mat do không có chiến lược cũng như đường đi rõ ràng cho mình. Từ đó, vị thế và giá trị của công ty sẽ giảm xuống. Phân loại von Vốn được chia ra rất nhiều loại theo từng nguồn hình thành, theo những tiêu thức riêng.
Và mỗi loại vốn thì lại có phương thức riêng. Vì vậy, việc nghiên cứu và phân loại sẽ giúp chúng ta chủ động sử dụng một cách có hiệu quả hơn. Theo nguồn hình thành + Vốn chủ sở hữu: là sô vốn mà thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Nguồn này có thê do Nhà nước cung cấp, do doanh nghiệp tự bỏ ra hay do vốn vóp cô phan hoặc từ lợi nhuận dé lại bổ sung vào.
- Hình thành từ thăng dư vốn: đây là khái niệm chi chênh lệch giữa giá trị thị trường của cô phiếu thường và mệnh giá của nó ở thời điểm phát hành. - Hình thành từ thu nhập giữ lại: khi doanh nghiệp hoạt động hiệu qua thì nguồn vốn sẽ có những điều kiện tốt dé gia tăng. Nguồn vốn từ thu nhập giữ lại được dùng để tái đầu tư hay có thể tài trợ cho các dự án khác dùng dé mở rộng hoạt động của doanh nghiệp. - Hình thành từ phát hành cô phiếu.
+ Nợ phải trả: Hình thành do doanh nghiệp phát hành trái phiếu, nợ khách hàng, cán bộ công nhân viên, đây là khoản tiền mà doanh nghiệp sẽ phải thanh toán tại một thời điểm khác cho “bên cho vay”. Theo phạm vi huy động vốn + Huy động từ bên trong: - Từ số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp - Từ quỹ khấu hao: quỹ nay dùng dé bù đắp sự hao mòn trong quá trình sử dụng tài sản cố định. Khi đó, doanh nghiệp sẽ dịch khoản hao mòn này dan vào giá trị của sản phẩm được sản xuất trong kỳ. Sau khi được tiêu thụ, tiền khấu hao sẽ được tích lũy thành “quỹ khấu hao tài sản cô định”.
- Từ lợi nhuận: Khi kinh doanh có hiệu quả, phần lợi nhuận thu được có thé sẽ được trích ra dé tái đầu như phục vụ cho việc mở rộng kinh doanh. + Huy động từ bên ngoài: - Từ hoạt động liên doanh: Liên doanh tức là cùng nhau làm ăn, khi đó nguồn vốn sẽ được góp theo tỷ lệ của tất cả các chủ đầu tư, rồi sau đó cùng chia lợi nhuận. Việc góp vốn liên kết có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau tuỳ theo từng loại hình của doanh nghiệp. Theo thời gian huy động + Nguon vốn thường xuyên: Tương ứng với mỗi một quy mô nhất định, doanh nghiệp đều phải có lượng vốn thường xuyên cần thiết để đảm bảo cho quá trình kinh doanh diễn ra liên tục.
Nguồn vốn này có thể huy động từ nguồn vốn chủ sở hữu, phát hành trái phiếu dài hạn hoặc có thé vay dai hạn từ các Ngân hàng thương mại, các tô chức tin dụng.