Luận án Tiến sĩ về Quản lý Vốn Khả Dụng trong Chính Sách Tiền Tệ của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tài chính ngân hàng quản lí vốn khả dụng trong điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sỹ kinh tế

2013

235
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ

1. CHƯƠNG 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

1.1. Khái quát về vốn khả dụng và quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương

1.1.1. Vốn khả dụng

1.1.2. Quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương

1.1.3. Nội dung và quy trình quản lí vốn khả dụng trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương

1.1.4. Quy trình quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương

1.1.5. Khung thời gian quản lí, dự báo vốn khả dụng

1.1.6. Nhân tố ảnh hưởng tới quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương

1.1.7. Kinh nghiệm quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương một số quốc gia

1.1.7.1. Kinh nghiệm về quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của FED
1.1.7.2. Kinh nghiệm về quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của ECB
1.1.7.3. Kinh nghiệm về quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Malaixia

1.1.8. Bài học với Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

2.1. Khái quát thực trạng điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

2.2. Mục tiêu điều hành Chính sách tiền tệ

2.3. Thực trạng hệ thống công cụ của Chính sách tiền tệ

2.4. Thực trạng quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

2.5. Hệ thống văn bản pháp quy liên quan tới quản lí vốn khả dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

2.6. Quy định về kì dự báo, nguồn thông tin và định kì cung cấp thông tin trong quản lí vốn khả dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

2.7. Đánh giá định lượng về sự ảnh hưởng của các nhân tố cấu thành cung cầu VKD tới trạng thái VKD trên BCĐ tiền tệ của NHNN Việt Nam

2.8. Đánh giá hoạt động quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

2.8.1. Kết quả đạt được

2.8.2. Một số hạn chế

2.8.3. Nguyên nhân

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

3.1. Định hướng hoạt động và điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thời gian tới

3.1.1. Định hướng hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

3.1.2. Định hướng điều hành Chính sách tiền tệ và quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

3.2. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

3.2.1. Nhóm giải pháp mang tính pháp lí

3.2.2. Nhóm giải pháp liên quan tới công tác dự báo vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

3.2.3. Nhóm giải pháp hoàn thiện biện pháp can thiệp quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

3.2.4. Nhóm giải pháp hỗ trợ

3.2.5. Kiến nghị với Chính phủ

3.2.6. Kiến nghị với các Bộ, ngành khác

3.2.7. Kiến nghị với các tổ chức trung gian tài chính

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khái quát về vốn khả dụng và quản lý vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương

Vốn khả dụng (vốn khả dụng) là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, đặc biệt trong việc điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Ngân hàng Nhà nước). Vốn này không chỉ đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của các tổ chức tín dụng (TCTD) mà còn đảm bảo tính thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Việc quản lý vốn khả dụng (quản lý vốn) bao gồm việc theo dõi, dự báo và điều chỉnh khối lượng vốn này để phù hợp với nhu cầu thanh toán và các yêu cầu dự trữ bắt buộc. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước cần thiết lập một hệ thống quy trình quản lý chặt chẽ nhằm đảm bảo rằng vốn khả dụng luôn ở mức tối ưu, từ đó hỗ trợ cho các mục tiêu của Chính sách tiền tệ. Một trong những yếu tố quan trọng trong quản lý vốn khả dụng là khả năng dự báo chính xác tình hình cung cầu vốn trên thị trường. Điều này không chỉ giúp Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh kịp thời các biện pháp can thiệp mà còn tạo ra sự ổn định cho thị trường tài chính. Như vậy, việc quản lý vốn khả dụng không chỉ là một nhiệm vụ kỹ thuật mà còn là một yếu tố quyết định đến sự thành công của Chính sách tiền tệ.

1.1. Nội dung và quy trình quản lý vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương

Quản lý vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương bao gồm nhiều nội dung quan trọng. Đầu tiên, cần xác định rõ các nguồn vốn khả dụng, bao gồm tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước và các khoản dự trữ dư thừa. Tiếp theo, quy trình quản lý vốn khả dụng cần được thực hiện một cách đồng bộ và liên tục, từ việc thu thập thông tin, phân tích dữ liệu đến việc đưa ra các quyết định can thiệp. Ngân hàng Nhà nước cần thiết lập các chỉ tiêu cụ thể để theo dõi tình hình vốn khả dụng, từ đó có thể đưa ra các biện pháp điều chỉnh kịp thời. Một trong những thách thức lớn trong quản lý vốn khả dụng là việc dự báo chính xác tình hình thị trường. Việc này đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước phải có một hệ thống thông tin mạnh mẽ và khả năng phân tích dữ liệu tốt. Ngoài ra, việc phối hợp giữa các chính sách vĩ mô cũng cần được chú trọng để đảm bảo tính hiệu quả trong quản lý vốn khả dụng.

II. Thực trạng quản lý vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thực trạng quản lý vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho thấy nhiều điểm tích cực nhưng cũng không ít thách thức. Trong giai đoạn gần đây, Ngân hàng Nhà nước đã có những cải tiến đáng kể trong việc quản lý vốn khả dụng, từ việc hoàn thiện các quy trình dự báo đến việc áp dụng các công cụ can thiệp linh hoạt hơn. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, như việc thiếu đồng bộ trong hệ thống thông tin báo cáo và khả năng dự báo còn hạn chế. Điều này dẫn đến tình trạng Ngân hàng Nhà nước thường xuyên phải điều chỉnh các biện pháp can thiệp mà không đạt được hiệu quả như mong muốn. Một trong những nguyên nhân chính là do sự biến động của thị trường tài chính, khiến cho việc dự báo trở nên khó khăn hơn. Để cải thiện tình hình, Ngân hàng Nhà nước cần tăng cường khả năng phân tích và dự báo, đồng thời cải thiện tính đồng bộ của các biện pháp can thiệp. Việc này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý vốn khả dụng mà còn góp phần ổn định thị trường tài chính.

2.1. Đánh giá định lượng về sự ảnh hưởng của các nhân tố cấu thành cung cầu vốn khả dụng tới trạng thái vốn khả dụng trên bảng cân đối tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Đánh giá định lượng về sự ảnh hưởng của các nhân tố cấu thành cung cầu vốn khả dụng tới trạng thái vốn khả dụng trên bảng cân đối tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng. Các nhân tố này bao gồm lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc và các yếu tố kinh tế vĩ mô khác. Việc phân tích các yếu tố này giúp Ngân hàng Nhà nước hiểu rõ hơn về động lực của thị trường và từ đó có thể đưa ra các quyết định chính xác hơn trong việc điều hành Chính sách tiền tệ. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự biến động của lãi suất có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu vốn khả dụng của các TCTD. Khi lãi suất tăng, nhu cầu vốn khả dụng thường giảm do các TCTD có xu hướng giữ lại vốn để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính. Ngược lại, khi lãi suất giảm, nhu cầu vốn khả dụng có xu hướng tăng. Do đó, việc theo dõi và phân tích các yếu tố này là rất cần thiết để đảm bảo rằng Ngân hàng Nhà nước có thể điều chỉnh kịp thời các biện pháp can thiệp nhằm đạt được mục tiêu của Chính sách tiền tệ.

III. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần được thực hiện đồng bộ và toàn diện. Đầu tiên, cần cải thiện hệ thống thông tin báo cáo để đảm bảo tính chính xác và kịp thời của dữ liệu. Việc này sẽ giúp Ngân hàng Nhà nước có được cái nhìn tổng quan về tình hình vốn khả dụng và từ đó đưa ra các quyết định chính xác hơn. Thứ hai, cần tăng cường khả năng dự báo tình hình cung cầu vốn khả dụng thông qua việc áp dụng các mô hình phân tích hiện đại. Điều này không chỉ giúp Ngân hàng Nhà nước dự đoán chính xác hơn về tình hình thị trường mà còn tạo ra sự chủ động trong việc điều chỉnh các biện pháp can thiệp. Cuối cùng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chính sách vĩ mô để đảm bảo rằng các biện pháp quản lý vốn khả dụng không chỉ đạt được mục tiêu ngắn hạn mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Việc này sẽ tạo ra một môi trường ổn định cho các TCTD hoạt động và từ đó nâng cao hiệu quả của Chính sách tiền tệ.

3.1. Nhóm giải pháp mang tính pháp lý

Nhóm giải pháp mang tính pháp lý trong công tác quản lý vốn khả dụng cần được chú trọng để đảm bảo tính hiệu quả và minh bạch trong hoạt động của Ngân hàng Nhà nước. Đầu tiên, cần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến quản lý vốn khả dụng, từ đó tạo ra một khung pháp lý rõ ràng cho các TCTD trong việc thực hiện nghĩa vụ dự trữ bắt buộc. Thứ hai, cần xây dựng các quy định cụ thể về việc báo cáo tình hình vốn khả dụng của các TCTD, nhằm đảm bảo rằng Ngân hàng Nhà nước có đủ thông tin để thực hiện công tác quản lý. Cuối cùng, cần có các biện pháp chế tài đối với các TCTD không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trong việc duy trì vốn khả dụng. Việc này không chỉ giúp nâng cao tính tuân thủ của các TCTD mà còn góp phần tạo ra một môi trường cạnh tranh công bằng trong hệ thống ngân hàng.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ VỐN KHẢ DỤNG VÀ QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1. Vốn khả dụng 1. Khái niệm Theo định nghĩa giản đơn, vốn khả dụng được hiểu là vốn có khả năng sử dụng.

Cụ thể hơn, vốn khả dụng là nguồn vốn sẵn sàng để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính như: rút tiền mặt của khách hàng, nhu cầu thanh toán, đáp ứng các cam kết cho vay với khách hàng, nộp thuế cho Ngân sách, trả nợ NHTƯ…của TCTD. Dưới góc độ hệ thống ngân hàng: Vốn khả dụng là tiềm lực vốn của một tổ chức tài chính, là VKD nằm tại TCTD. VKD của TCTD được chia làm hai phần: Dự trữ bắt buộc và dự trữ dư thừa. Dự trữ dư thừa là phần dự trữ sơ cấp, có tính lỏng cao nhất, có thể sử dụng đáp ứng các yêu cầu về vốn của TCTD ở mọi thời điểm.

Vì vậy, phần VKD này được dự trữ: (i) Một phần để tại TCTD dưới dạng Ngân quỹ, đáp ứng nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng, nhu cầu thanh toán, đáp ứng nghĩa vụ cho vay, các cam kết khác. VKD này duy trì với mục đích là đáp ứng nhu cầu thanh toán tức thì hay đảm bảo thanh khoản - là khả năng đáp ứng tức thời nhu cầu rút tiền của khách hàng tại bất cứ thời điểm nào với mức chi phí thấp nhất; (ii) Một phần gửi tại NHTƯ dưới dạng tiền gửi DTBB, tiền gửi thanh toán và tiền gửi khác. Trên phương diện quản lý của NHTƯ: VKD gửi tại NHTƯ – chính là số tiền dự trữ mà TCTD gửi vào NHTƯ của quốc gia. Nó bao gồm: tiền gửi DTBB, tiền gửi thanh toán, v.là phần vốn các TCTD phải giữ lại theo quy định và một phần dự trữ dư thừa được các TCTD gửi tại NHTƯ để đáp ứng nhu cầu thanh toán qua NHTƯ.

Phần dư thừa này có tính lỏng cao nhất, có mối quan hệ chặt chẽ với phần VKD nằm 10 tại TCTD và nhạy cảm với sự biến động về lãi suất trên thị trường. Vì vậy quản lí VKD của NHTƯ chính là NHTƯ sử dụng các biện pháp can thiệp để điều chỉnh phần VKD này, từ đó tác động đến phần VKD nằm tại TCTD, đồng thời chi phối tới hành vi mua hay bán vốn trên TT LNH, tác động tới mức lãi suất LNH, từ đó thông qua cơ chế truyền tải lãi suất để điều chỉnh trạng thái cung cầu trên các bộ phận khác của TTTC và đạt mục tiêu điều hành CSTT. Phần VKD nằm tại NHTƯ là một thước đo về mức độ dư thừa hay thiếu hụt VKD của các TCTD. Mức VKD của một ngân hàng càng lớn đồng nghĩa với việc lượng tiền dư thừa ngân hàng có thể cung cấp trên thị trường LNH là nhiều.

Thông qua việc rút bớt hay bơm thêm VKD, NHTƯ có thể tác động tới chênh lệch cung - cầu về dự trữ của ngân hàng, từ đó khiến ngân hàng phải điều chỉnh hành vi của mình trên thị trường liên ngân hàng. Lãi suất liên ngân hàng vì thế có thể được điều chỉnh theo ý của NHTƯ. Mối quan hệ giữa phần VKD nằm tại TCTD và tại NHTƯ là vô cùng mật thiết với nhau. Khi trạng thái VKD nằm tại TCTD dư thừa hay thiếu hụt sẽ tác động nhanh chóng tới trạng thái VKD của TCTD đó tại NHTƯ và ngược lại.

Cụ thể hơn, khi VKD tại quỹ dư thừa so với nhu cầu sử dụng vốn, nếu để tiếp tục tại quỹ, TCTD sẽ bị mất chi phí cơ hội, vì vậy, phần dư thừa này được đẩy lên thành số dư tiền gửi tại NHTƯ, làm cung VKD tại NHTƯ tăng lên và TCTD có thể sử dụng giao dịch trên TTLNH nhằm giảm chi phí cơ hội của việc giữ tiền thông qua việc bán vốn tại mức lãi suất mong muốn. Ngược lại, khi trạng thái này thiếu hụt, TCTD thực hiện: hoặc rút tiền từ NHTƯ lập tức hay vay trên TTLNH và làm số dư VKD tại NHTƯ biến đổi. Ngược lại, để thực hiện CSTT, NHTƯ có thể tiến hành chủ động điều chỉnh trạng thái VKD thông qua bơm hay hút VKD trên TTLNH, dẫn đến số dư VKD trên tài khoản tiền gửi tăng lên hay giảm xuống, làm thay đổi trạng thái vốn của các TCTD tham gia giao dịch trên thị trường theo hướng thặng dư hay thâm hụt và các TCTD đó sẽ điều chỉnh lượng vốn cung cho nền kinh tế của mình, tác động tới mức lãi suất cho vay, từ đó tác động sâu rộng tới các chỉ tiêu vĩ mô của nền kinh tế. Dù được hiểu trên phương diện hệ thống TCTD hay từ phương diện quản lí thì 11 VKD cũng đều được NHTƯ quan tâm, vì nó ảnh hưởng tới hệ thống tiền tệ quốc gia và sự ổn định tài chính.

Khi VKD biến động đều sẽ tác động đến sự cân bằng cung cầu VKD trên TT LNH và truyền tải tác động đến các bộ phận TTTC khác và tới nền kinh tế. Vì vậy, quản lý VKD là một hoạt động vô cùng quan trọng của NHTƯ. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, Luận án sử dụng quan điểm VKD từ phương diện quản lí của NHTƯ, làm rõ nội hàm của cầu và cung VKD tại NHTƯ và NHTƯ hoạt động quản lí phần VKD để góp phần nâng cao hiệu quả điều hành CSTT. VKD của TCTD tại NHTƯ bắt nguồn từ hai nhân tố chính: Nhân tố tự định và chính sách.

Nhân tố tự định là nhân tố biến động nằm ngoài sự kiểm soát của NHTƯ, bị tác động bởi hành vi công chúng (như Tiền mặt ngoài lưu thông) hay hoạt động của tổ chức (như cho vay hay tiền gửi của chính phủ)…và nhân tố chính sách là nhân tố bị ảnh hưởng bởi Chính sách của NHTƯ. Tùy phương diện xem xét là Cung VKD hay Cầu VKD tại NHTƯ mà nhân tố tự định và chính sách sẽ khác nhau. Cầu và cung vốn khả dụng tại Ngân hàng trung ương Cầu vốn khả dụng tại Ngân hàng trung ương Cầu VKD được hiểu là tập hợp các nhu cầu cần đáp ứng để thực hiện các nghĩa vụ về tài chính của TCTD đó với các đối tác, bao gồm NHTƯ, ngân sách nhà nước, các TCTD khác và đặc biệt là khách hàng của TCTD. Cầu VKD được hình thành từ hai bộ phận: cầu VKD tự định và cầu chính sách.

Hay theo bản chất của thì cầu VKD tự định chính là cầu dự trữ dư thừa nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán của TCTD và cầu VKD chính sách là cầu xuất phát từ yêu cầu dự trữ bắt buộc của NHTƯ. (i) Cầu VKD tự định: Là những nhu cầu thanh toán cần đáp ứng xuất phát từ những yếu tố nội tại trong hoạt động của TCTD và nằm ngoài sự kiểm soát trực tiếp từ NHTƯ, bao gồm: - Nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng: Khi khách hàng gửi tiền vào TCTD với mục đích tiết kiệm, thanh toán thì tương ứng với dòng tiền gửi vào là nhu cầu rút tiền ra ở một thời điểm được xác định trước hoặc không được xác định trước. Việc chuẩn bị đáp ứng việc rút tiền của khách hàng trở thành một bộ phận cầu VKD 12 của TCTD phải tính toán để luôn sẵn sàng đáp ứng khi phát sinh nhu cầu từ khách hàng. Bộ phận tiền mặt tại quỹ của TCTD sẽ đáp ứng trước tiên cho nhu cầu này, nếu không đủ sẽ rút từ NHTƯ và tăng cầu VKD tại NHTƯ.

- Nhu cầu thanh toán chuyển khoản của khách hàng: với KH duy trì số dư nhằm mục đích thanh toán thì TCTD có nghĩa vụ duy trì số dư để đáp ứng nhu cầu của KH. Đối với cả hệ thống TCTD thì nhu cầu thanh toán của khách hàng không còn là bộ phận cấu thành Cầu VKD do nhu cầu thanh toán của khách hàng không làm tăng mà chỉ làm dịch chuyển nhu cầu sử dụng tiền của TCTD này sang TCTD khác. - Nhu cầu nộp thuế với Ngân sách: trong quá trình hoạt động kinh doanh, việc đóng góp nghĩa vụ thuế với Ngân sách phát sinh ra nhu cầu VKD của TCTD và kế hoạch được. - Nhu cầu thực hiện các cam kết với khách hàng: cho vay, tài trợ…Nhu cầu này TCTD có thể nắm được kế hoạch thực hiện.

- Thực hiện các giao dịch ngoại hối với NHTƯ: đây là yếu tố tự định xuất phát từ nhu cầu của TCTD, nhưng việc quyết định có thực hiện giao dịch hay không lại phụ thuộc vào NHTƯ khi xem xét mụa tiêu của CSTT. Để đáp ứng các nhu cầu trên, các TCTD duy trì VKD của mình dưới dạng: Tiền mặt tại quỹ, các tài sản có tính lỏng cao và một phần vốn gửi tại NHTƯ. Vì vậy, nhu cầu duy trì số dư trên tài khoản thanh toán tại NHTƯ cũng là cầu VKD. TCTD cần duy trì một lượng VKD để đáp ứng nghĩa vụ tài chính của mình tại NHTƯ.

Tiền gửi này thường không được trả lãi và TCTD được sử dụng hoàn toàn theo nhu cầu của mình. Trong trường hợp quốc gia sử dụng công cụ DTBB, theo lượng dự phòng trung bình hay chế độ tự nguyện dự trữ theo hợp đồng thì đều duy trì cả hai loại tiền gửi thanh toán và DTBB chung trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại NHTƯ với điều kiện số dư tối thiểu bình quân cả kì phải đủ mức DTBB quy định và hàng ngày đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán để giảm thiểu gánh nặng chi phí cơ hội cho khoản mục dự trữ [11]. Điều đó đồng nghĩa với việc rất khó khăn để xác định lượng tiền gửi thanh toán có đủ hay vượt quá nhu cầu dự trữ và NHTƯ dự báo VKD cần nắm được thông tin về lượng DTBB phải thực hiện. Trên phương diện 13 quản lí của NHTƯ, cầu VKD tự định này chính là phần dự trữ dư thừa, là phần vốn vượt ngoài mong muốn của TCTD để đáp ứng nhu cầu thanh toán được duy trì NHTƯ.

TCTD phải luôn duy trì số dư dương vì lí do phòng ngừa rủi ro và nếu không duy trì đủ số dư để đảm bảo khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán họ có thể bị phạt với mức bằng mức lãi suất thị trường. [44],[55],[76] (ii) Cầu VKD chính sách: là yêu cầu thực hiện của NHTƯ mà các TCTD phải để một khoản gọi là tiền gửi dự trữ bắt buộc. DTBB là khoản tiền mà các TCTD phải thực hiện theo quy định của NHTƯ trong từng thời kì, dựa vào tỉ lệ DTBB và số dư tiền gửi mà tổ chức đó huy động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Quản lý vốn khả dụng trong chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh và quản lý vốn khả dụng nhằm đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế. Các điểm chính của bài viết bao gồm tầm quan trọng của vốn khả dụng trong việc duy trì thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, cũng như các biện pháp mà Ngân hàng Nhà nước áp dụng để kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ về quản lý vốn khả dụng không chỉ giúp họ nắm bắt được các chính sách tiền tệ hiện hành mà còn có thể áp dụng vào các quyết định tài chính cá nhân hoặc doanh nghiệp.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các khía cạnh liên quan đến quản lý tài chính và kinh tế, hãy tham khảo thêm bài viết Vai trò của KTN trong quản lý nợ công tại Việt Nam, nơi phân tích vai trò của kinh tế nhà nước trong việc kiểm soát nợ công. Bài viết Tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành đến việc làm cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa cơ cấu ngành và thị trường lao động trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế. Cuối cùng, bài viết Phân tích mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về vai trò của xuất khẩu trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề kinh tế hiện nay.