Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách nhànước. Chương 2: Thực trạng công tác quản lývốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách nhà nước trên địa bàn Thành Phố Thanh Hóa. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lývốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách nhà nước trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa. TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.
Tổng quan lý luận về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách nhà nước 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách nhà nước 1. Đầu tư và đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Kết quả mang lại đó có thể làhiệu quả tài chí nh, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xãhội.
Theo khái niệm về đầu tư tại Luật đầu tư số 67/2014/QH 13: “Đầu tư làviệc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật cóliên quan” [29]. Tóm lại, hoạt động đầu tư là quá trình sử dụng vốn đầu tư nhằm duy trì những tiềm lực sẵn có, hoặc tạo thêm tiềm lực mới để mở rộng qui mô hoạt động của các ngành sản xuất, dịch vụ, kinh tế, xãhội nhằm tăng trưởng và phát triển nền kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần cho mọi thành viên trong xãhội. Đầu tư có nhiều loại: Đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp (cho vay); đầu tư ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Đầu tư dài hạn thường gắn với đầu tư xây dựng tài sản cố định - gắn với đầu tư xây dựng cơ bản.
Do vậy, có thể hiểu như sau [24]: Đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, đó làviệc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn vàtái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân thông 8 qua các hình thức xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục các tài sản cố định. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước a) Khái niệm Vốn đầu tư XDCB là toàn bộ chi phí đã bỏ ra để đạt được mục đích đầu tư, bao gồm: Chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán [20]. Trong đầu tư XDCB thì vốn đầu tư XDCB là yếu tố tiền đề quan trọng không thể thiếu được để xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nhu cầu vốn đầu tư XDCB là rất lớn, cần có cơ chế để giải quyết nguồn huy động vốn trong điều kiện nền kinh tế còn thiếu vốn đầu tư.
Trong đó, các nguồn lực thuộc quyền sở hữu vàchi phối toàn diện của Nhà nước được sử dụng cho hoạt động đầu tư XDCB được gọi làvốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước. Như vậy: Vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước là một phần của vốn đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước được hì nh thành từ sự huy động của Nhà nước dùng để chi cho đầu tư XDCB nhằm xây dựng và phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật vàkết cấu hạ tầng kinh tế - xãhội cho nền kinh tế quốc dân [21]. Dưới góc độ một nguồn lực tài chính quốc gia, vốn đầu tư xây dựng từ NSNN là một bộ phận của quỹ NSNN trong khoản chi đầu tư phát triển của NSNN hàng năm được bố trí cho đầu tư vào các công trình, dự án XDCB của Nhà nước. Nguồn vốn NSNN cho đầu tư XDCB tại địa phương bao gồm: vốn hỗ trợ của Trung ương, vốn địa phương, nguồn từ các chương trình dự án … Vốn đầu tư XDCB từ NSNN dùng để đầu tư cho các dự án đầu tư thuộc các đối tượng sau [23]: 9 + Các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế- xãhội, quốc phòng- an ninh không cókhả năng thu hồi vốn và được quản lýsử dụng phân cấp chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển như các công trình giao thông, thuỷ lợi, giáo dục, đào tạo, y tế, trồng rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn… + Các dự án thuộc diện nghiên cứu, thử nghiệm, ứng dụng khoa học, công nghệ mới… + Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật.
+ Các dự án về quy hoạch: quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xãhội của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Quy hoạch phát triển ngành; Quy hoạch phát triển vùng; Quy hoạch đô thị vàphát triển nông thôn… + Các dự án được bố tríbằng vốn chi sự nghiệp trong dự toán ngân sách nhà nước để sửa chữa, cải tạo, mở rộng, nâng cấp các cơ sở vật chất hiện có, cógiátrị từ 100 triệu đồng trở lên, nhằm phục hồi hoặc tăng giá trị tài sản cố định (bao gồm cả việc xây dựng mới các hạng mục công trình trong các cơ sở đã có của các cơ quan, đơn vị hành chí nh sự nghiệp). + Các dự án đầu tư khác theo quyết định của Chính phủ. b) Phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước - Căn cứ vào phạm vi, tí nh chất vàhình thức cụ thể: Vốn đầu tư xây dựng từ NSNN được hì nh thành từ các nguồn sau [25]: + Vốn trong nước của các cấp NSNN (vốn của ngân sách nhà nước cân đối cho đầu tư xây dựng của các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương…). + Nguồn vốn vay nợ nước ngoài của Chí nh phủ cho đầu tư XDCB và vốn viện trợ của nước ngoài cho Chí nh quyền, các cơ quan nh phủ, các cấp chí nhà nước.
- Căn cứ vào công tác quản lý: Vốn ngân sách nhà nước phân làm hai cấp quản lý đó là vốn thuộc ngân sách Trung ương và vốn thuộc ngân sách địa phương. 10 + Vốn đầu tư XDCB của ngân sách Trung ương được hì nh thành từ các khoản thu của ngân sách Trung ương nhằm đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích quốc gia. Nguồn vốn này được giao cho các Bộ, ngành quản lý sử dụng. + Vốn đầu tư XDCB của ngân sách địa phương được hì nh thành từ các khoản thu ngân sách địa phương nhằm đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích của từng địa phương đó.
Nguồn vốn này thường được giao cho các cấp nh quyền địa phương (tỉnh, TP Thanh Hóa, xã) quản lýthực hiện. chí c) Đặc điểm vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước Vốn đầu tư XDCB từ NSNN bao gồm toàn bộ chi phí đã bỏ ra để đạt được mục đích đầu tư, như: Chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán [32]. Vốn đầu tư XDCB từ NSNN còn có hai đặc điểm mang tính đặc thù cần được quan tâm, đó là: - Nguồn vốn NSNN đầu tư cho XDCB thường được đánh giá là không có khả năng thu hồi trực tiếp, với số lượng lớn, có tác dụng chung cho sự phát triển kinh tế- xã hội. Vốn đầu tư XDCB tập trung chủ yếu để phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật hoặc định hướng hoạt động đầu tư vào những ngành, lĩnh vực chiến lược.
Đây là một đặc điểm quan trọng, góp phần quyết định việc sử dụng vốn đầu tư để lựa chọn hình thức đầu tư sao cho mang lại hiệu quả cao nhất. - Nguồn vốn NSNN đầu tư cho XDCB là nguồn vốn cấp phát trực tiếp từ NSNN không hoàn lại nên đây là nguồn vốn dễ bị thất thoát, lãng phí nhất cần được quản lýchặt chẽ. Do đó vốn đầu tư được Nhà nước quản lývà điều hành sử dụng theo các quy định của Luật NSNN, Luật đầu tư, Luật xây dựng, Luật đấu thầu và các văn bản hướng dẫn bao gồm: các Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của các Bộ, Ngành Trung ương thực hiện 11 pháp luật về quản lý đầu tư, quản lý chi phí đầu tư, quản lýthanh quyết toán vốn đầu tư XDCB các công trình, các dự án. d) Vai trò của vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước Trong nền kinh tế quốc dân, vốn ĐTXDCB từ NSNN cóvai tròrất quan trọng đối với phát triển kinh tế - xãhội.
Vai trò đó thể hiện trên các mặt sau [33]: Một là, vốn đầu tư XDCB từ NSNN góp phần quan trọng vào việc xây dựng vàphát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, hì nh thành kết cấu hạ tầng chung cho đất nước như giao thông, thuỷ lợi, điện, trường học, trạm y tế… Thông qua việc duy trìvàphát triển hoạt động ĐTXDCB, vốn ĐTXDCB từ NSNN góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế quốc dân, tái tạo và tăng cường năng lực sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập quốc dân vàtổng sản phẩm xãhội. Hai là, vốn đầu tư XDCB từ NSNN góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành những ngành mới, tăng cường chuyên môn hoávàphân công lao động xãhội. Chẳng hạn, để chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH đến năm 2020, Đảng và Nhà nước chủ trương tập trung vốn đầu tư vào những ngành, lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọn như công nghiệp dầu khí,hàng không, hàng hải, đặc biệt làgiao thông vận tải đường bộ, đường sắt cao tốc, đầu tư vào một số ngành công nghệ cao. Thông qua việc phát triển kết cấu hạ tầng để tạo lập môi trường thuận lợi, tạo sự lan toả đầu tư và phát triển kinh doanh, thúc đẩy phát triển xãhội.
Ba là, vốn đầu tư XDCB từ NSNN có vai trò định hướng hoạt động đầu tư trong nền kinh tế.