CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VIỆC ỨNG DỤNG CNTT 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trên thế giới, giáo dục và CNTT đã có những bước tiến rất nhanh. Chính vì vậy, việc ứng dụng CNTT vào dạy học đã và đang có nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa vào thực tiễn dạy và học. Các lớp học công nghệ cao, mô hình quản lý việc dạy học có ứng dụng CNTT ở các nước trên thế giới đã đạt được nhiều thành quả nhất định, đem lại hiệu quả cao trong dạy học, góp phần nâng cao hiệu suất đào tạo. Vấn đề nghiên cứu việc ứng dụng CNTT vào dạy học trong nước gần đây có nhiều tác giả đã có bài viết và công trình nghiên cứu như: - Đề tài Sử dụng CNTT-viễn thông để nâng cao hiệu quả dạy học và đổi mới phương thức đào tạo của Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Cường, Viện nghiên cứu giáo dục đã đưa ra được những biện pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả dạy học và giới thiệu những hình thức dạy học ứng dụng công nghệ có thể vận dụng vào thực tiễn giáo dục Việt Nam [7].
- Công trình nghiên cứu CNTT với việc dạy và học trong nhà trường Việt Nam của Lưu Lâm đã phân tích những điểm mạnh, điểm yếu của việc sử dụng CNTT trong dạy và học đồng thời nêu lên được việc ứng dụng CNTT trong dạy và học ở hiện tại và tương lai [19]. - Công trình nghiên cứu Đổi mới phương pháp giảng dạy (PPGD) bằng CNTT – Xu thế của thời đại của TS. Quách Tuấn Ngọc báo cáo tại Hội thảo “Tin học trong quản lý nhà trường” đã nêu quan niệm dạy và học theo hướng sử dụng CNTT và trình bày một số thể nghiệm bước đầu trong việc sử dụng CNTT trong dạy và học thực hiện tại trung tâm CNTT Bộ GD-ĐT [24]. - Kỷ yếu hội thảo Về cải cách phương pháp dạy học theo hướng vận dụng CNTT và các thiết bị dạy học hiện đại để phát huy mạnh mẽ tính tích cực, chủ động sáng tạo, kỹ năng thực hành và hứng thú học tập của học sinh do Trường THPT dân lập Ngôi Tieu luan sao TP.Hồ Chí Minh tổ chức vào tháng 3/2003 đã nêu được thực tiễn việc vận dụng CNTT tại một trường THPT dân lập ở TP.Hồ Chí Minh [27].
- Luận văn Thạc sĩ đề tài Một số biện pháp chỉ đạo của HT để đổi mới PPDH bằng sử dụng CNTT ở các trường THPT vùng ven thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Trần Phước Đức đã đề xuất nhiều biện pháp mang tính đột phá trong quản lý, đặc biệt là ở khâu chỉ đạo của HT trong việc ứng dụng CNTT vào dạy học ở các trường vùng ven còn gặp nhiều khó khăn về điều kiện kinh tế - xã hội [9]. - Tổng quan về ứng dụng CNTT trong giáo dục của Trần Khánh trường ĐHSP Thái Nguyên cho cái nhìn khái quát về những thuận lợi khó khăn khi ứng dụng CNTT trong giáo dục ở Việt Nam giai đoạn 2001-2005 [15]. - Đề án dạy học tin học và ứng dụng CNTT trong trường phổ thông giai đoạn 2004- 2006 của Bộ GD-ĐT giới thiệu một số mô hình, tổ chức dạy học môn tin học và định hướng cho việc ứng dụng CNTT trong giai đoạn 2004 – 2006 [3]. - Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước quy định rõ những nội dung cần ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực hoạt động của từng đơn vị hành chính sự nghiệp [23].
- Hướng dẫn số 9854/BGDĐT-CNTT về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2007-2008 về CNTT của Bộ GD-ĐT ngày 07/9/2007 cũng nêu rõ cần phải đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học. - Bài viết Ứng dụng CNTT trong quản lý trường THCS - Thực trạng và giải pháp của TS Ngô Quang Sơn 10/2007 nêu lên những mặt tích cực và hạn chế trong việc ứng dụng CNTT vào quản lý ở các trường THCS, đề xuất một số biện pháp để việc quản lý nhà trường có hiệu quả hơn với việc ứng dụng CNTT [26]. - Luận văn thạc sĩ đề tài Thực trạng quản lý việc ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào giảng dạy ở các trường PTTH ở huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang của tác giả Phan Tấn Chí đã nêu lên được tình hình ứng dụng CNTT vào dạy học ở các trường PTTH ở một huyện của tỉnh Tiền Giang, qua đó cũng đã xác định được một số biện pháp quản lý cần thiết để việc ứng dụng CNTT vào dạy học ở bậc PTTH của địa phương từng bước đạt hiệu quả cao hơn. [6] Tieu luan Tuy có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về việc ứng dụng CNTT vào dạy học song những công trình nghiên cứu về thực trạng quản lý việc ứng dụng CNTT vào dạy học ở bậc tiểu học tại quận 11, thành phố Hồ Chí Minh còn ít được đề cập đến.
Vì vậy, để góp phần cải thiện chất lượng quản lý và dạy học, nghiên cứu thực trạng quản lý việc ứng dụng CNTT vào dạy học ở các trường tiểu học quận 11 là việc làm cấp thiết.2 Những khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm quản lý Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý - Theo từ điển Tiếng Việt do Trung tâm từ điển học biên soạn 1998, khái niệm quản lý được định nghĩa là: + Trông coi và giữ gìn theo yêu cầu nhất định. + Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định. - Theo Henry Fayol: “Quản lý nghĩa là dự kiến, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp và kiểm tra” [20]. - Theo Harold Koontz: “ Quản lý là một thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [14]. - Tác giả Trần Kiểm trong quyển “Quản lý giáo dục và trường học” đã nêu một số cách định nghĩa về quản lý như sau: + Theo “Bách khoa toàn thư Liên –Xô (cũ): “Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động” [16]. + Hoạt động có sự tác động qua lại giữ hệ thống và mội trường. Do đó, quản lý được hiểu là sự bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống đến trạng thái mới, thích ứng với hoàn cảnh mới.
Tieu luan - Tác giả Nguyễn Minh Đạo định nghĩa: “Quản lý là sự tác động liên tục có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống của chủ thể quản lý (người, tổ chức) đến khách thể ( đối tượng ) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [8]. - Trong cuốn “Lý luận quản lý nhà nước”, tác giả Mai Hữu Khuê có định nghĩa về quản lý nhà nước như sau: “Quản lý là một phạm trù có liên quan mật thiết với hiệp tác và phân công lao động, nó là một thuộc tính tự nhiên của mọi lao động hiệp tác. Từ khi xuất hiện những hoạt động của quần thể loài người thì đã xuất hiện sự quản lý. Sự quản lý có trong cả xã hội nguyên thủy, ở đó con người phải tập hợp với nhau để đấu tranh với thế giới tự nhiên, muốn sinh tồn con người phải tổ chức sản xuất, tổ chức phân phối”.
Mỗi đơn vị quản lý luôn bao gồm hai bộ phận: bộ phận quản lý và bộ phận bị quản lý. Trong đó, bộ phận quản lý còn được gọi là chủ thể quản lý, bao gồm cá nhân, tập thể hay tổ chức được giao trách nhiệm quản lý. Bộ phận bị quản lý còn được gọi là khách thể, là đối tượng chịu tác động quản lý từ chủ thể quản lý. Dù định nghĩa như thế nào thì bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) có tính lịch sử và tính xã hội, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đề ra.
Quản lý vừa là pháp lý, vừa là công nghệ, vừa là khoa học và vừa là nghệ thuật. Quản lý giữ vai trò quan trọng trong mọi hoạt động trong đó có giáo dục. Nói chung, các định nghĩa về quản lý đều tập trung vào hiệu quả công tác quản lý, mà điều này phụ thuộc vào các yếu tố như chủ thể quản lý, khách thể quản lý và mục đích công tác quản lý bằng tác động từ chủ thể tới khách thể quản lý nhờ công cụ và phương pháp quản lý.2 Chức năng quản lý Lao động quản lý là dạng lao động đặc biệt. Nó gắn liền với quá trình lao động tập thể và sự phân công lao động xã hội.
Lao động quản lý thông qua sự tác động của chủ thể quản lý. Theo tác giả Phạm Thanh Liêm: “Chức năng quản lý là hệ thống được quy định một cách khách quan bởi những phân công và hợp tác lao động của đối tượng quản lý” [17]. Tieu luan Khi phân chia các chức năng quản lý, có nhiều quan điểm khác nhau. Tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn đã tổng hợp và đề xuất các chức năng sau: Kế hoạch hóa; Xác định mục tiêu và nhiệm vụ quản lý thông tin; Dự báo; Soạn thảo và đề ra quyết định; Công tác cán bộ; Công tác ngân sách kinh phí; Tổ chức thực hiện ra quyết định, Điều chỉnh; Phối hợp; Chỉ đạo hành chính; Kiểm tra; Tổng kết [11].
Tài liệu của UNESCO đề ra 7 chức năng: Kế hoạch hóa; Tổ chức; Bố trí biên chế; Chỉ đạo; Phối hợp; Tổng kết; Quyết toán ngân sách [38]. Tóm lại, khi phân chia các chức năng quản lý, có nhiều quan điểm khác nhau, song các quan điểm đều thống nhất ở những chức năng sau: Kế hoạch hóa; Tổ chức; Chỉ đạo; Kiểm tra. Bốn chức năng trên có quan hệ với nhau tạo thành một chu trình quản lý.