phần mở đầu và kết luận, Bài viết bao gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý tín dụng chính sách trong xây dựng nông thôn mới. Chƣơng 2: Thực trạng tín dụng chính sách với chƣơng trình nông thôn mới tại Ngân hàng Chính sách xã hội Chƣơng 3: Giải pháp quản lý tín dụng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2018 - 2020 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Quan điểm về nông thôn mới Về khái niệm nông thôn, theo Bách khoa toàn thƣ Việt Nam, nông thôn là danh từ để chỉ những vùng đất mà ở đó ngƣời dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp.
Đến nay, khái niêm nông thôn đã đƣợc quy định tại văn bản, theo Thông tƣ số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã", đây cũng là khái niệm đƣợc thống nhất với Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn Về khái niệm nông thôn mới, tại Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới chƣa có một khái niệm hoàn chỉnh về nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới. Trong Tài liệu đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ xây dựng nông thôn mới do Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới thuộc UBND tỉnh Hà Tĩnh phát hành, khái niệm nông thôn mới đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Nông thôn mới là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của ngƣời dân không ngừng đƣợc nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Nông dân đƣợc đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng đƣợc xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị.
Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ. Sức mạnh của hệ thống chính trị đƣợc nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội. [12] 9 Nhƣ vậy, thuật ngữ “nông thôn mới” đƣợc sử dụng để phân biệt với khu vực nông thôn lạc hậu, nghèo đói, chậm phát triển hơn so với khu vực thành thị, với những tồn tại, bất hợp lý đã, đang và sẽ cản trở sự phát triển của khu vực này nói riêng và toàn nền kinh tế xã hội nói chung. Những bất hợp lý này có thể là sự bất bình đẳng trong xã hội nông thôn, sự kém phát triển trong cơ sở hạ tầng xã hội ,và cũng có thể là sự lạc hậu trong quan hệ sản xuất kinh doanh của ngƣời nông dân… Về xây dựng nông thôn mới, quá trình cải cách nông thôn, từ bƣớc thấp tới bƣớc cao hơn, từ nông thôn lạc hậu, nghèo đói tới nông thôn hiện đại, hội nhập phù hợp với bối cảnh KT - XH từng thời kỳ, đƣợc coi là “xây dựng nông thôn mới”.
Xây dựng nông thôn mới không chỉ đơn giản là xây dựng lại khu vực nông thôn lạc hậu với phần còn lại của nền kinh tế mà phải hiểu nó đƣợc thực hiện trong bối cảnh phát triển thành thị và nông thôn song hành với nhau, và đặt trong mối quan mật thiết giữa phát triển công nghiệp, dịch vụ và phát triển nông nghiệp, nông thôn. Khi tiến trình đô thị hóa tăng tốc, một bộ phận nông dân chuyển dịch sang các ngành sản xuất khác và các ngành nghề phi nông nghiệp phát triển. Thực trạng này đòi hỏi cần phải đƣa ra hƣớng đi mới cho bộ phận nông dân trung thành với nghề nông, đồng thời triển khai các biện pháp để nâng cao khả năng cạnh tranh của nông nghiệp, tăng thu nhập và bảo đảm quyền lợi của ngƣời nông dân. Tƣơng tự, khi công nghiệp và dịch vụ phát triển, nhƣng thay đổi trong cấu trúc nền kinh tế về nguồn lực nhƣ đất đai, vốn, và lao động.
Với các yếu tố tác động từ bên ngoài có thể nhận thấy nguồn lực đất đai bị chuyển đổi mục đích sử dụng từ nông nghiệp sang phục vụ phát triển công nghiệp và dịch vụ và đi cùng với nó là nguồn vốn tài chính đƣợc tập trung vào lĩnh vực này, trong khi đó nguồn lao động từ nông thôn sẽ di chuyển đến thành thị để kiếm những công việc mới. Không chỉ có vậy, bản thân khu vực nông nghiệp nông thôn tự thân nó cũng có những chuyển biến cho phù hợp với điều kiện mới, đó là quá trình tự điều chỉnh khi cơ cấu nông nghiệp thay đổi theo hƣớng đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp tại địa phƣơng chẳng hạn. Tóm lại, những điều này đòi hỏi cần có những thay đổi kinh tế - xã hội mang tính chiến lƣợc nhằm bảo đảm cho nền nông nghiệp giữ đƣợc vai trò căn bản, hài hòa với hai ngành còn lại trong nền kinh tế phát triển cân bằng. 10 Về quan điểm xây dựng nông thôn mới tại Việt Nam, xây dựng nông thôn mới là một nhiệm vụ có liên quan tới mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, và chính trị.
Quan điểm về nông thôn mới tại Việt Nam đƣợc thể hiện khá toàn diện qua bốn vấn đề lớn trong Nghị quyết số 26 - NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn do Hội nghị Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng lần thứ VII đề ra, nhƣ sau: - Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lƣợc trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lƣợng quan trọng để phát triển KT - XH bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, và bảo vệ môi trƣờng sinh thái của đất nƣớc. - Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải đƣợc giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản, phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt.
- Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trƣớc hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lƣợng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tƣ của Nhà nƣớc và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân. - Giải quyết các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; trƣớc hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nƣớc, tự chủ, tự lực tự cƣờng vƣơn lên của nông dân. Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, 11 hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân. Các tiêu chí về nông thôn mới Về mục tiêu xây dựng nông thôn mới tại Việt Nam, xây dựng nông thôn mới là chủ trƣơng của Đảng hƣớng tới mục tiêu giải phóng sức sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kích thích nhu cầu thị trƣờng nông thôn tăng trƣởng, hỗ trợ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Về mục tiêu xã hội, đây là bƣớc đi nhằm rút ngắn cách biệt giữa thành thị và nông thôn, bảo đảm đời sống ấm no toàn diện, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Bốn mục tiêu tổng quát trong Nghị quyết số 26 - NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn do Hội nghị Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng lần thứ VII đề ra bao gồm: - Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cƣ nông thôn, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân đƣợc đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nƣớc tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. - Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hƣớng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lƣợng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lƣơng thực quốc gia cả trƣớc mắt và lâu dài. - Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng KT - XH hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí đƣợc nâng cao, môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dƣới sự lãnh đạo của Đảng đƣợc tăng cƣờng.
- Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng KT - XH và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Về nguyên tắc xây dựng các tiêu chí về nông thôn mới, dù ở quốc gia nào, xây dựng mục tiêu chung (gắn với đó là các chỉ tiêu cụ thể trong một bộ tiêu chí chung) cho nông thôn mới tại một quốc gia là điều không hề dễ dàng. Điều kiện 12 KT-XH của mỗi vùng, mỗi địa phƣơng là không giống nhau nên từng vùng, từng địa phƣơng sẽ có mục tiêu cụ thể khác nhau trong từng tiêu chí của bộ tiêu chí.