mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 03 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lượng cho vay hộ nghèo tại NHCSXH. Chƣơng 2: Thực trạng chất lượng cho vay hộ nghèo tại NHCSXH chi nhánh tỉnh Đắk Nông. Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng cho vay hộ nghèo tại NHCSXH chi nhánh tỉnh Đắk Nông. z 17 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.
Hoạt động cho vay hộ nghèo tại NHCSXH 1. Ngân hàng chính sách xã hội 1. Khái niệm Ngân hàng chính sách xã hội là một loại hình ngân hàng đặc biệt, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà để thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước đối với một số đối tượng cụ thể. Các tác giả Lê Thị Tuyết Hoa và Nguyễn Thị Nhung (2011) có định nghĩa rằng ngân hàng đặc biệt là các ngân hàng trung gian được thành lập để phục vụ cho những mục đích kinh tế và xã hội của nhà nước.
Sự xuất hiện ngân hàng này là do sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực khác nhau trong quốc gia của nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường trong quá trình phát triển tuy phù hợp nhưng cũng nảy sinh những mặt trái của nó như: sự phân hóa giàu nghèo, sự thiếu cân bằng trong đầu tư,. Nền kinh tế thị trường sẽ tồn tại những ngành hàng, những khu vực, đối tượng khách hàng có sức cạnh tranh kém, không đủ các điều kiện để tiếp cận với dịch vụ tín dụng của các ngân hàng thương mại như các ngành hàng mang tính lợi ích công cộng, những khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện thời tiết khắc nghiệt, chi phí đầu tư cao, rủi ro lớn, do đó các Ngân hàng thương mại (NHTM) rất ít đầu tư vào khu vực này, mặt khác nhiều hộ dân, tổ chức kinh tế ở vùng này thiếu vốn nhưng không đủ các điều kiện để vay vốn các Ngân hàng thương mại. Để khắc phục khuyết tật này đòi hỏi chính phủ phải có chính sách h trợ một cách ưu tiên cho những ngành sản xuất yếu kém nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh hơn, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các bộ phận dân cư.
Các mô hình phổ biến trên thế giới về việc hình thành các Ngân hàng chính sách thường bao gồm hai loại hình chính: Ngân hàng chính sách phục vụ chính sách phát triển kinh tế theo định hướng của Chính phủ, thường được gọi là Ngân hàng phát triển. z 18 Ngân hàng chính sách phục vụ các chính sách xã hội của Nhà nước thường được gọi là ngân hàng chính sách xã hội. Đặc thù của Ngân hàng Chính sách xã hội. Là ngân hàng đặc biệt hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuân, NHCSXH có những đặc thù riêng biệt dưới đây: Hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận: khác với đặc điểm của các ngân hàng thương mại thông thường, Ngân hàng Chính sách xã hội không hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận mà để thực hiện sứ mệnh xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế và ổn định xã hội.
Thông qua việc cho vay ưu đãi các đối tượng vay vốn như: lãi suất cho vay thấp hơn các ngân hàng thương mại, điều kiện và thời gian cho vay được điều chỉnh phù hợp với điều kiện trả nợ của hộ vay, có h trợ về chuyên môn cho người vay để phát triển kinh tế,. Được hưởng một số đặc quyền theo quy định của pháp luật: Ngân hàng chính sách xã hội là công cụ để nhà nước thực hiện các chính sách, phúc lợi xã hội, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận do đó NHCSXH được hưởng một số ưu đãi. Thực hiện cho vay các đối tượng chính sách theo quy định của pháp luật: Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện cho vay các đối tượng khách hàng, các dự án phát triển. Đối tượng khách hàng của Ngân hàng chính sách xã hội có thể là: hộ nghèo, hộ cận nghèo, doanh nghiệp vừa và nhỏ ở hoạt động thường xuyên tại các vùng khó khăn và các đối tượng thụ hưởng chính sách xã hội khác.
Đây là những đối tượng khó tiếp cận được với dịch vụ tín dụng của các Ngân hàng thương mại; là các khách hàng dễ bị tổn thương, cần có sự h trợ tài chính từ Chính phủ và cộng đồng để vươn lên tự cải thiện điều kiện sống của chính họ. Thực hiện đầy đủ các hoạt động của Ngân hàng bao gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ thanh toán qua tài khoản: NHCSXH cũng là một loại hình ngân hàng nên được thực hiền đầy đủ các hoạt động của một ngân hàng. Trong đó, NHCSXH lấy hoạt động huy động vốn và cho vay làm chủ đạo. Được tiếp nhận nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước và các tổ chức khác để triển khai các chương trình, hoạt động cho vay người nghèo: Trong khi các Ngân hàng thương mại chủ yếu sử dụng nguồn vốn đi vay để cho vay, hay nói cách khác là sử dụng nguồn vốn huy động từ các khoản tiền nhàn r i trong dân cư để cho vay z 19 đáp ứng như cầu vốn sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế thì nguồn vốn của Ngân hàng chính sách xã hội lại được tạo lập chủ yếu từ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước.
Khái niệm và đặc điểm hộ nghèo 1. Các khái niệm về đói nghèo Đói nghèo là hiện tượng mang tính chất toàn cầu. Nó không chỉ tồn tại ở các nước kém phát triển mà nó còn tồn tại ngay cả những nước có nền kinh tế phát triển. M i quốc gia có những cách khác nhau để đánh giá về đói nghèo; đó là tùy thuộc vào điều kiện thiên nhiên, điều kiện kinh tế, chính trị của m i quốc gia.
Nhìn chung các quốc gia đều sử dụng thu nhập bình quân đầu người tối thiểu mà một người có thể tồn tại được làm thang đo để xác định thế nào là hộ nghèo. Tại Hội nghị bàn về xóa đói giảm nghèo do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Thái Lan năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao cho rằng: "Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận" Quan niệm về nghèo như trên xuất phát từ việc tiếp cận thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, mặc, học hành, khám chữa bệnh, nhà ở.; sự thiếu hụt một hoặc một số các nhu cầu đó được coi là nghèo. Trong Báo cáo về tình hình phát triển thế giới – tấn công đói nghèo, năm 2000 , Ngân hàng Thế giới (WB) thừa nhận quan điểm truyền thống đói nghèo: Đói nghèo "không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất (được do lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế , báo cáo đã mở rộng quan điểm về đói nghèo khi tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương, dễ bị rủi ro của người nghèo. Báo cáo nêu bật nghèo có nghĩa là không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường.
Báo cáo chỉ ra "người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Họ thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra rìa và không có tiếng nói quyền lực trong các thể chế đó .3 Đặc điểm của hộ nghèo Hộ nghèo có những đặc điểm chủ yếu cần được nhận thức để có những chính sách phù hợp trong quan hệ tín dụng: Người nghèo thường rụt rè, tự ti, ít tiếp xúc, phạm vi giao tiếp hẹp. Bị hạn chế về khả năng nhận thức và kỹ năng sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, người nghèo thường tổ chức sản xuất theo thói quen chưa biết mang ngành nghề và chưa có điều kiện tiếp cận với thị trường.
Do đó, sản xuất mang nặng tính tự cung tự cấp, chưa tạo được sản phẩm hàng hóa và đối tượng sản xuất kinh doanh thường thay đổi. Phong tục, tập quán sinh hoạt và những truyền thống văn hóa của người nghèo cũng tác động đến nhu cầu tín dụng. Người nghèo thường sử dụng vốn vào sản xuất nông nghiệp là chủ yếu hoặc những ngành nghề thủ công buôn bán nhỏ. Do vậy, mà nhu cầu vốn thường mang tính thời vụ.
Đặc điểm cho vay hộ nghèo tại NHCSXH. Do tính đặc trưng nên hoạt động cho vay hộ nghèo có những đặc điểm: Quy mô của món vay nhỏ lẻ, chi phí quản lý cao: đặc điểm của người đi vay là người nghèo, có thu nhập thấp, có năng lực sản xuất kinh doanh chưa cao vì vậy là lượng vốn bỏ ra cũng không lớn. Số lượng cần h trợ là tương đối lớn với món vay nhỏ lẻ nên chi phí quản lý vốn cao. Rủi ro với đối tượng này khá cao vì vậy các khoản vay nhỏ và mang tính phân tán cao.
Lãi suất cho vay thấp: đi đúng với mục tiêu h trợ tối đa nguồn vốn cho hộ nghèo vươn lên thoát nghèo, NHCSXH tạo điều kiện cho người nghèo được tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp để yên tâm kinh doanh. Đa số khách hàng không phải có tài sản bảo đảm: NHCSXH cho vay chủ yêu bằng hình thức ủy thác cho các tổ chức chính trị -xã hội đứng ra cam kết, bảo lãnh cho hộ nghèo vay vốn bằng hình thức tín chấp dựa trên uy tín của khách hàng. Đối tượng khách hàng là hộ nghèo, tài sản đảm bảo thường không có hoặc có giá trị thấp nên NHCSXH tạo điều kiện cho hộ nghèo được vay vốn tín chấp thông qua tổ chức Hội, đoàn thể để nhiều hộ nghèo hơn được tiếp cận nguồn vốn chính sách. Tuy nhiên, một số trường hợp vì không có tài sản đảm bảo cũng chính là lý do khiến một z 21 số hộ nghèo vay vốn có tính ỷ lại chính sách, thể hiện sự chây ỳ khi thực hiện việc nghĩa vụ đóng lãi, trả nợ khi đến hạn.