phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm các chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về quản lý thuế Thu nhập cá nhân. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý thuế Thu nhập cá nhân tại Cục thuế Thành phố Hà Nội. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý thuế Thu nhập cá nhân tại Cục thuế Thành phố Hà Nội. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.
Tổng quan về quản lý thuế thu nhập cá nhân Thuế TNCN đã có hơn 200 năm lịch sử. Bắt nguồn từ cuối thế kỷ 18, khi nƣớc Anh lâm vào sự thâm hụt ngân sách tài chính một cách trầm trọng do phải vay mƣợn tài chính để trang trải cho cuộc chiến tranh với Pháp. Năm 1798, thủ tƣớng Anh William Pitt (1759-1806) ban hành một sắc thuế mới đánh vào thu nhập của một số ngƣời có thu nhập cao, nhằm mục đích trang trải chiến phí với hoàng đế Napoleon. Năm 1801, thủ tƣớng William Pitt từ chức, thủ tƣớng kế nhiệm Henry Addington (1757-1844) đã ra lệnh huỷ bỏ sắc thuế này vào năm 1802.
Năm 1803, cuộc chiến với Pháp lại bùng nổ và thuế TNCN lại đƣợc ban hành. Thuế thu nhập của Addington ban hành năm 1803 đánh thuế theo bậc và thu nhập trên 60 Bảng Anh, rất khác biệt so với thuế thu nhập của William Pitt năm 1799. Addington là cha đẻ của hai nguyên tắc mà thuế TNCN hiện đại vẫn đang áp dụng đó là: thuế đƣợc khấu trừ tại nguồn (witholding at source) và thuế đánh trên từng loại thu nhập (schedule of income tax). Khi cuộc chiến tranh với Pháp chấm dứt, chính phủ Anh lại huỷ bỏ thuế TNCN một lần nữa.
Trong giai đoạn 1816 -1842, ngân sách nƣớc Anh lại trông cậy chủ yếu vào nguồn thu thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu. Nói chung trong vòng khoảng một thế kỷ kể từ lần đầu tiên đƣợc áp dụng, thuế TNCN là loại thuế không phổ biến và vai trò đóng góp nguồn thu ngân sách mang tính tình thế (temporary tax); chỉ từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX thì loại thuế này mới thực sự trở thành một nguồn thu ổn định và đƣợc luật hóa trong hệ thống thu hàng năm của ngân khố thông qua hệ thống khấu trừ thuế tại nguồn có tên là "chi trả thuế theo thu nhập "- PAYE (Pay as you earn). Đến nay, đã có khoảng 180 nƣớc áp dụng thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế phổ biến, đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống 7 chính sách thuế của nhiều nƣớc. Các quốc gia có nền kinh tế thị trƣờng phát triển đều coi thuế thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Khái niệm t u t u c Theo Đỗ Đức Minh, Nguyễn Việt Cƣờng (2010): “Thuế thu nhập là loại thuế điều tiết trực tiếp thu nhập thực tế của cá nhân và tổ chức trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định (thƣờng là một năm)”. Các sắc thuế thu nhập phổ biến trên thế giới là thuế thu nhập công ty (thuế thu nhập doanh nghiệp) và thuế thu nhập cá nhân (TNCN). “Thuế TNCN là lo i thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được của các cá nhân trong một ỳ tính thuế nhất định thường một năm, từng tháng hoặc từng lần, hông phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập”. Trong đó, TNCN có thể hiểu là tổng số tiền, hàng hóa, dịch vụ mà một cá nhân nhận đƣợc trong một thời kỳ nhất định (thƣờng là một năm).
Thuế TNCN có lịch sử ra đời hàng trăm năm, đƣợc áp dụng lần đầu tiên ở Anh vào năm 1799 dƣới hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và đƣợc chính thức ban hành vào năm 1842. Sau đó, thuế TNCN đƣợc lan truyền nhanh chóng sang các nƣớc công nghiệp khác nhƣ Nhật Bản (1887), Mỹ (1913), Pháp (1914),…Một số nƣớc Châu Á cũng bắt đầu áp dụng thu thuế TNCN từ giữa thế kỷ 20: Thái Lan (1939), Philipin (1945), Hàn Quốc (1948)… Đến nay, đã có hơn 180 nƣớc áp dụng thuế TNCN và thuế TNCN đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách thuế của nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, văn bản pháp luật về thuế TNCN đƣợc ban hành lần đầu tiên ngày 27/12/1990 là Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao. Ngày 21 11 2007, Quốc hội ban hành Luật thuế TNCN và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 01 2009, thay thế cho Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập 8 cao trƣớc đây.
Đặc đ ểm của t u t u c Thuế TNCN có những đặc điểm quan trọng ảnh hưởng đến quản lý thu thuế như sau: Thứ nhất, thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của ngƣời nộp thuế, ngƣời nộp thuế đồng nhất với ngƣời chịu thuế nên khó có thể chuyển gánh nặng thuế sang cho ngƣời khác. Thứ hai, thuế TNCN là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích cụ thể của ngƣời nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã hội. Đặc điểm này xuất phát từ tính trực thu của thuế TNCN. Do đó, thuế TNCN rất nhạy cảm và dễ bị phản ứng của ngƣời nộp thuế.
Thứ ba, thuế TNCN là loại thuế luôn gắn liền với chính sách xã hội của mỗi quốc gia mặc dù các quốc gia hiện nay vẫn luôn hƣớng tới một hệ thống chính sách thuế mang tính trung lập. Khi tính thuế TNCN có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của ngƣời nộp thuế bằng việc quy định một số khoản đƣợc khấu trừ có tính chất xã hội trƣớc khi tính thuế. Thứ tư, thuế thu nhập cá nhân đƣợc đánh theo nguyên tắc “khả năng nộp thuế” và cũng xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh ngƣời có thu nhập cao, động viên sự đóng góp của những ngƣời có thu nhập thấp, thu nhập trung bình trong xã hội do vậy, thuế TNCN thƣờng đƣợc tính theo biểu thuế luỹ tiến. Thứ năm, thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hoá, dịch vụ.
Thuế thu nhập cá nhân không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hoá, dịch vụ nên nó không tạo ra sự sai lệch giá cả hàng hoá, dịch vụ. Thứ sáu, thuế thu nhập cá nhân có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nƣớc sở tại và ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú thƣờng xuyên hay không thƣờng xuyên tại nƣớc đó và hầu nhƣ tất cả số thu nhập có đƣợc của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nƣớc hay ngoài nƣớc. Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế thu nhập cá nhân rất cao. 9 Thứ bảy, nguồn thu nhập chịu thuế đa dạng, phân tán và rất phức tạp, nhất là đối với các nƣớc áp dụng hệ thống đánh thuế trên tổng thể (Global Income Taxes) cho nên Thuế TNCN đòi hỏi trình độ quản lý rất cao và bao quát.
Thứ tám, chi phí hành thu của thuế TNCN thƣờng rất cao, điều này làm cơ sở để áp dụng biện pháp khấu trừ thuế tại nguồn chi trả (Witholding at source), đó cũng là một biện pháp để giảm chi phí hành thu. Vai trò của thu thu nh cá nhân T ứ ất, thuế TNCN là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp trong xã hội. Thuế TNCN ra đời xuất phát từ yêu cầu đảm bảo sự công bằng trong tiêu dùng hàng hoá công cộng và phân phối thu nhập. Điều này đặc biệt cần thiết trong điều kiện kinh tế thị trƣờng vì sự phân hoá giàu nghèo là điều khó tránh khỏi.
Trong hoàn cảnh đó, thuế thu nhập cá nhân sẽ là một biện pháp tốt để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội mà vẫn đảm bảo tính công bằng trong đóng góp của các cá nhân cho xã hội. Thuế TNCN đánh vào thu nhập của cá nhân dựa trên nguyên tắc “lợi ích đƣợc hƣởng”, “công bằng” và “khả năng nộp thuế”. Theo nguyên tắc “lợi ích đƣợc hƣởng” của kinh tế học công cộng, công dân phải có nghĩa vụ nộp thuế để đƣợc hƣởng những lợi ích do Nhà nƣớc mang lại, chẳng hạn nhƣ hệ thống luật pháp, quốc phòng, an ninh, trật tự, dịch vụ, hàng hoá công. Thuế TNCN đảm bảo nguyên tắc “công bằng”.
Trong đó, những ngƣời có thu nhập nhƣ nhau phải nộp thuế nhƣ nhau (công bằng theo chiều ngang), những ngƣời có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều hơn ngƣời có thu nhập thấp (công bằng theo chiều dọc). Bên cạnh đó, cần phải xem xét “khả năng nộp thuế” của đối tƣợng nộp để đảm bảo tính khả thi của chính sách thuế vì ngƣời dân không thể nộp thuế khi không đảm bảo thu nhập để duy trì cuộc sống tối thiểu. Trên ý nghĩa đó, thuế TNCN là sắc thuế đảm bảo tính công bằng, hợp lý và hiệu quả trong phân phối thu nhập quốc dân. Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của một quốc gia.
Mặc dù về quan 10 điểm hoàn thiện chính sách thuế là cần phải xây dựng một chính sách thuế có tính trung lập, không nhằm nhiều mục tiêu khác nhau, nhƣng trong thực tế chƣa có quốc gia nào tách rời hẳn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội. Sự công bằng đƣợc biểu thị bởi biểu thuế luỹ tiến từng phần, mức điều tiết về thuế tăng dần đều, ngƣời có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều. Chính sách xã hội thể hiện thông qua cơ chế chiết trừ gia cảnh và một số khoản giảm trừ trƣớc khi tính thuế. T ứ a , thuế TNCN là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng và ổn định cho Ngân sách Nhà nước.
Do nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc ngày càng tăng trong điều kiện chức năng của nhà nƣớc ngày càng mở rộng. Hơn nữa, tiến trình tự do hoá thƣơng mại khu vực và thế giới trong những thập kỷ gần đây đã làm cho nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu bị sụt giảm đáng kể. Điều đó đặt ra nhu cầu tăng cƣờng các nguồn thu nội địa để bù đắp thiếu hụt ngân sách. Thuế thu nhập cá nhân đƣợc coi là nguồn thu quan trọng trong tổng thu ngân sách nhà nƣớc.