phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, bảng biểu và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính luận văn bao gồm các chƣơng sau: - Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế TNCN đối với cá nhân không cƣ trú - Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý thuế TNCN của cá nhân không cƣ trú tại Việt Nam - Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý thuế TNCN của cá nhân không cƣ trú tại Việt Nam 4 c CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TNCN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KHÔNG CƢ TRÚ 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận văn 1. Những vấn đề mang tính tổng thể về quản lý thuế Thuế đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của một quốc gia, là công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Lịch sử hình thành và phát triển Nhà nƣớc gắn liền với các hình thái kinh tế- xã hội cụ thể. Thuế đƣợc quy định bởi nhà nƣớc.
Thuế là nghĩa vụ luật định mà các ĐTNT phải nộp vào NSNN. Nhiệm vụ thu NSNN là nhiệm vụ quan trọng của Ngành thuế. Dƣới các góc độ khác nhau, những công trình nghiên cứu đã đề cập đến những vấn đề có liên quan trực tiếp, gián tiếp tới đề tài này. Sau đây là một vài nghiên cứu liên quan: Dựa trên việc đánh giá tác động của tiến trình cải cách tới hệ thống thuế ở Việt Nam nhằm thu nhập thông tin và đƣa ra nhận định cho quá trình cải cách trong tƣơng lai của Ngân hàng thế giới năm 2007, nhóm tác giả nghiên cứu Gangadha Prasad shukla, Phạm Minh Đức, Lê Minh Tuấn, Michael Engelschalk của Ngân hàng thế giới năm 2011 đã xuất bản cuốn sách “Cải cách thuế ở Việt Nam: Hƣớng tới một hệ thống hiệu quả và công bằng hơn”.
Cuốn sách nhìn nhận chính sách thuế của Việt Nam đã đƣợc hiện đại hóa trên từ việc áp dụng kinh nghiệm của một số nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Mục tiêu là hỗ trợ hiệu cuả cho việc tuân thủ thuế của tƣ nhân, nhất là của ngƣời nộp thuế TNCN. Qua “Quản lý thuế ở Việt Nam – Hoàn thiện và đổi mới”, Nguyễn Thị Mỹ Dung (2012), cho thấy hệ thống chính sách thuế gồm: Các sắc thuế đƣợc ban hành dƣới các hình thức Luật, Pháp lệnh. Chúng gắn bó rất mật thiết và tác động lẫn nhau trong quá trình phát huy tác dụng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế.
Tuy nhiên, một hệ thống chính sách ƣu việt phải đƣợc gắn liền với sự phát triển hiệu quả ở thực tiễn, mới đạt hiệu quả tối ƣu Bài viết “Một số vấn đề về quản lý thuế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Trần Thị Vân Anh (2020), Tạp chí tài chính, phân tích tác động của hội nhập kinh tế quốc tế tới hệ thống thuế các quốc gia nói chung, trong đó chú trọng tới những thách thức mà hệ thống thuế Việt Nam đang gặp phải nhằm rút ra một số giải pháp hỗ trợ cho 5 c công tác quản lý thuế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp 4. Bài viết “Thách thức cho Cơ quan thuế Việt Nam khi gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN”, Đặng Thị Bạch Vân (2015), tạp chí Phát triển và hội nhập, dựa trên góc độ của lý thuyết hội nhập và lý thuyết về thuế quốc tế để đánh giá và phân tích những thách thức trong ngắn hạn và dài hạn cho cơ quan thuế Việt Nam trƣớc thềm ra đời và phát triển của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) từ 2015. Kết quả phân tích cho thấy về cơ bản cơ cấu thuế các quốc gia ASEAN khá tƣơng đồng. Tuy nhiên, để việc hội nhập mang lại những lợi ích cho quốc gia, tác giả cũng đƣa ra một số đề xuất hoàn thiện hệ thống thuế quốc gia trong quá trình hội nhập AEC.
Việt Nam cần có những bƣớc chuẩn bị nghiêm túc và dài hạn cho việc khẳng định thế mạnh và vị thế riêng của mình trong cộng đồng. Dự án “Cải cách hành chính thuế” của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã khảo sát đội ngũ công chức quốc tế của ngành thuế, lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực quốc tếm xây dựng một chƣơng trình đào tạo cho công chức thuế cả về nghiệp vụ, kĩ năng, ngoại ngữ để phục vụ kế hoạch dài hạn. Các vấn đề thuộc nội dung quản lý Thuế TNCN và quản lý Thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú Thuế TNCN có ảnh hƣởng rộng đến các tầng lớp dân cƣ, là nguồn thu của NSNN, có tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Mấu chốt trong quản lý thuế TNCN chính là kiểm soát đƣợc nguồn thu nhập để tính thuế.
Nhiều công trình nghiên cứu trƣớc đó đã làm rõ vấn đề này trên các khía cạnh khác nhau: Tại “Nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam”, Phan Phƣơng Nam (2011), Tác giả đã làm rõ khái niệm nguyên tắc công bằng dƣới góc độ lý luận, đƣợc cụ thể hóa trong pháp luật thuế TNCN thời điểm đó nhƣ thế nào và thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân có đảm bảo đƣợc tính công bằng chƣa. Đồng thời, tác giả cũng đã tham khảo pháp luật của các nƣớc tiên tiến để thấy rõ hơn tính công bằng trong pháp luật thuế TNCN, từ đó tác giả đã đƣa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện việc xây dựng dự thảo Luật thuế TNCN. “Những yếu tố ảnh hƣởng đến việc kiểm soát thu nhập của ngƣời nộp thuế trong quá trình thực hiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam”, của Nguyễn Hải Ninh 6 c (102, tr. Tác giả cho rằng cái khó nhất trong quá trình thực thi pháp luật thuế TNCN vẫn là vấn đề kiểm soát thu nhập của NNT.
Trong quá trình triển khai và thực hiện quản lý thuế TNCN, việc kiểm soát nguồn thu nhập đóng vai trò thiết yếu. Tác giả đã phân tích vai trò của từng yếu tố trong việc kiểm soát thu nhập cá nhân tại Việt Nam. Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện quản lý thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” đƣợc bảo vệ thành công năm 2015 tại Học viện Tài chính và luận án “Hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam”, năm 2017 tại Đại học Kinh tế Quốc dân của hai tác giả tƣơng ứng Lý Kiều Nhung và Trần Thu Trang. Dƣới góc độ lý luận, các vấn đề về quản lý thuế TNCN tác giả phân tích chi tiết gắn liền với các thực tế xã hội.
Dƣới góc độ thực tiễn, các nội dụng này đƣợc nghiên cứu về trình tự sửa đổi Luật thuế TNCN theo thời gian, từ đó phân tích các chủ trƣơng của Nhà nƣớc ta qua từng thời kỳ. Công tác quản lý thuế TNCN còn đƣợc một số tác nghiên cứu ở những địa phƣơng cụ thể. Với điều kiện kinh tế xã hội và chức năng nhiệm vụ đặc thù đòi hỏi các hoạt động quản lý thuế TNCN cần đƣợc áp dụng phù hợp và hiệu quả. Luận văn “Hoàn thiện quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Cục thuế Hà Nội”, Nguyễn Thị Ngọc Lan (2016) đã nghiên cứu tổ chức bộ máy thuế TNCN, thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Luận văn “Hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN tại Cục thuế tỉnh Quảng Bình”, Trịnh Thị Thúy Kiều (2018) đã nghiên cứu và đƣa ra các định hƣớng, hoàn thiện chung về thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Các luận văn trên góp phần cho tác giả hiểu sâu hơn về thuế TNCN tại các địa phƣơng, từ đó có những tổng hợp, đƣa ra những vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong quản lý thuế TNCN. Luận văn “Hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN đối với những ngƣời không cƣ trú làm việc trên địa bàn Hà Nội”, Phạm Thị Phƣơng Anh (2013) đã nghiên cứu và chỉ ra một số các định hƣớng cho công tác quản lý thuế TNCN đối với cá nhân không cƣ trú. Tuy nhiên tại thời điểm đó, Cục thuế Hà Nội đang ủy quyền thu thuế TNCN cho Sở Công Thƣơng, Cục thuế không trực tiếp nhận tờ khai và thu thuế.
Việc tiếp nhận tờ khai, thu tiền thuế tại Sở Công Thƣơng cũng đƣợc ghi nhận theo phƣơng thức thủ công, không có phần mềm lƣu trữ hiện đại. Các phần mềm quản lý thuế tại thời điểm đó cũng đã cũ và đƣợc thay mới. Phƣơng thức quản lý thuế đối với cá nhân không cƣ trú cũng không thích hợp để ứng dụng trong thời điểm hiện tại. 7 c Bài viết “Quản lý ngƣời nƣớc ngoài tại các quốc gia đang phát triển, cơ hội và thách thức”, Trần Thủy (2017), tạp chí hội nhập và phát triển khẳng định bên cạnh những lợi ích từ việc xã hội mở cửa cho ngƣời nƣớc ngoài vào làm việc, các nƣớc đa phần đều vƣớng phải những khó khăn trong công tác quản lý ngƣời nƣớc ngoài.
Mỗi quốc gia đều tuân thủ theo những trình tự quản lý cơ bản, nhƣng cũng linh động thay đổi quy trình, đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào quản lý để tăng cƣờng sự hiệu quả. Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập tới việc quản lý cá nhân không cƣ trú tại các quốc gia phải luôn đề cao tính nhanh nhạy, kịp thời bởi tính thông tin về đối tƣợng này rất ít, trong trƣờng hợp xảy ra các vấn đề mang tính rủi ro cho xã hội sẽ rất khó để truy vết nếu đối tƣợng đã xuất cảnh. Bài viết “Nguồn thu từ cá nhân không cƣ trú”, Phạm Minh Thi (2018) đã chỉ ra các nguồn thu nhập có thể thu thuế đối với cá nhân không cƣ trú. Tác giả cũng nêu ra một số thực trạng liên quan tới những khó khăn mà ngành thuế đang đối mặt trong quản lý số nợ thuế từ cá nhân không cƣ trú và đề xuất việc quản lý nghiêm ngặt, chi tiết hồ sơ về cá nhân không cƣ trú ngay khi nhập cảnh vào Việt Nam, tránh thất thoát số thu cho NSNN.
Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu đã được công bố liên quan tới đề tài của Luận văn Dƣới nhiều góc độ, các đề tài nghiên cứu đã đi vào phân tích khá toàn diện các nội dung về Thuế TNCN và công tác quản lý thuế TNCN tại Việt Nam.