Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thuế thu nhập cá nhân và công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công tại Cục Thuế TP Đà Nẵng. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công tại Cục thuế TP Đà Nẵng 7. Tổng quan tài liệu Nghiên cứu quản lý thuế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua khá đa dạng. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về quản lý thuế TNCN nói chung và từ tiền lương, tiền công nói riêng còn hạn chế hoặc mới nghiên cứu tổng quan, nhất là dưới góc độ của cơ quan thuế.
Các nghiên cứu về quản lý thuế TNCN gồm có: “Quản lý thu ngân sách bền vững trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” do TS.Hồ Kỳ Minh, TS.Nguyễn Văn Hùng và cộng sự thực hiện, nghiệm thu năm 2012 đã cung cấp nhiều cách tiếp cận khác nhau về thu ngân sách nhà nước, những tiêu chí đánh giá sự bền vững của nguồn thu, đồng thời thể hiện bức tranh chung về công tác này dưới sự đánh giá của người dân và doanh nghiệp trong quá trình nộp thuế. Kết quả của công trình nghiên cứu đồng thời cũng cho thấy thuế TNCN từ tiền lương, tiền công cũng là nguồn thu bền vững cho thành phố trong bối cảnh các nguồn thu khác đang gặp khó khăn. 14 “Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phô Đà Nẵng” - luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Lê Bá Tiến (2012), luận văn đã hệ thống được những vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý thuế của Cục thuế TP. Đà Nẵng đối với các doanh nghiệp FDI trên địa bàn thành phố và cũng có đề cập đến hoạt động chuyên giá của các doanh nghiệp này Tuy nhiên, luận văn trình phản ánh và đánh giá công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp FDI trên các sắc thuế cơ bản (GTGT, TNDN, TNCN) và trong các bộ phận chức năng của cơ quan thuế như: tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra, quản lý nợ.
Tác giả chưa đi sâu vào hoạt động chuyển giá ~ một hình thức trốn thuế TNDN của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chưa nêu các trường hợp chuyền giá tiêu biểu do thanh tra, kiểm tra Cục thuế thực hiện. Các công trình nghiên cứu trên đều có mục đích chung là kiểm soát hoạt động thu thuế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nhưng đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận khác nhau. Là một trong những địa phương có mức thu nhập bình quân đầu người 2600 Đô la/năm, cao 1.6 lần so với cả nước, Đà Nẵng cũng có mức đóng góp đáng kể từ nguồn thu này. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp và chỉ tiết về công tác quản lý thuế TNCN từ tiền lương, tiền công trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Sau khi tham khảo các công trình nêu trên, tác giả đã tìm hiểu thêm các thông tin từ báo cáo, tham luận ngành thuế và các thông tin khác đẻ nghiên cứu đề công tác quản lý thuế TNCN từ tiền lương, tiền công tại Cục thuế TP. NHUNG VAN DE CO BAN VE CONG TAC QUAN LY THUE THU NHAP CA NHAN TU TIEN LUONG, TIEN CONG 1. TONG QUAN VE THUE THU NHAP CA NHAN 1. Khái niệm thuế TNCN Bat kỳ quốc gia nào có nền kinh tế vẫn động theo cơ chế thị trường đều coi thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách và công bằng xã hội.
Thuế TNCN trên thế giới thông thường đánh vào cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh. Thuế này được coi là một loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt “Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các nhân trong một kỳ tính thuế nhất định thường là một năm hoặc từng lần phát sinh, không phân biệt nguồn góc phát sinh thu nhập” [1, tr. Hay nói cách khác, Thuế thu nhập cá nhân là khoản tiền mà người có thu nhập phải trích nộp một phần tiền lương, hoặc từ các nguồn thu nhập khác vào ngân sách Nhà nước. Đây là nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi công dân góp phần cho sự phát triển phén vinh của đất nước.
Hiểu luật và chấp hành tốt các quy định của luật thuế là một trong những cách để tiết kiệm chỉ phí thuế cho chính mình một cách hữu hiệ Thuế thu nhập cá nhân động viên một phần thu nhập của cá nhân, thể hiện nghĩa vụ cụ thể của công dân đối với đất nước. Công dân được hưởng những thành quả của đất nước như cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội, an ninh trật tự. thì đồng thời có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập của mình cho xã hội thông qua việc nộp thuế. Thuế thu nhập cá nhân được xây dựng trên nguyên tắc công bằng và kha nang nộp thuế: người có thu nhập thấp thì chưa nộp thuế, người có thu nhập cao thì nộp thuế nhiều hơn, người có thu nhập như nhau nhưng có hoàn cảnh khác nhau thì mức nộp thuế cũng khác nhau.
Thực hiện nộp thuế thu nhập cá nhân cũng góp phần làm giảm hợp lý khoảng cách chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư. 16 Thuế TNCN lần đầu tiên ra đời ở Anh (1841) sau đến Nhật (1887), Đức (1889), Mỹ (1913) và Mỹ trở thành quốc gia có tỷ suất thuế TNCN lớn nhất thế giới chiếm tới 35-60% tổng thu từ thuế vào ngân sách nhà nước. Trung Quốc, thuế TNCN ra đời vào năm 1941 nhưng đến năm 1955 mới trở thành một sắc thuế độc lập. Ở Pháp, thuế TNCN ra đời năm 1961, Liên Xô năm 1922, Hàn Quốc năm 1974 và cho đến nay theo thống kê đã có khoảng 180 nước áp dụng thuế TNCN.
Ngày 27/12/1990, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và được uỷ ban Thường vụ quốc hội thông qua, pháp lệnh có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/1991. Để cho phù hợp với tình hình thực tế trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, từ năm 1991 đến năm 2004 đã có 06 lần sửa đổi, bỗ sung Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: Lần thứ nhất vào ngày 10/3/1992, lần thứ hai vào ngày 01/6/1994, lần thứ ba vào ngày 06/2/1997, lần thứ tư vào ngày 30/6/1999, lần thứ năm vào ngày 13/6/2001 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2001) và lần thứ 6 là pháp lệnh sửa đổi, bổ sung số 14/2004/PL-UBTVQHII ban hành năm 2004 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 đến 31/12/2008). Thông tư 81/2004/TT-BTC và thông tư số 12/2005/TT-BTC là những văn bản hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh này. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu hội nhập và phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII đã thông qua Luật số 04/2007/QH12 - Luật thuế thu nhập cá nhân.
Luật này có hiệu lực thi hành chính thức từ ngày 01/01/2009; sau đó ban hành Lu sửa đổi bổ sung số 26/2012/QH13; Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Đặc iễm cúa thuế TNCN ~ Thuế TNCN là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc luật định. Phân phối khoản thu nhập qua TNCN gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước. 17 - Thué TNCN luôn gắn liền với chính sách xã hội của mỗi quốc gia.
Hầu hết cá quốc gia đều gắn thuế TNCN với một chính sách xã hội khác (như phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khoẻ. - Thuế TNCN là một loại thuế trực thu. Do Vậy, người nộp. thuế cũng là người chịu thuế.
- Thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tắt cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nước và ngoài nước. Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu ngân sách nhà nước của thuế TNCN tất cao. - Việc đánh thuế TNCN thường được áp dụng theo nguyên tắc thuế suất luỹ tiến từng phan. ~ Khi tính toán thuế TNCN thì thường phải xét đến hoàn cảnh của mỗi cá nhân và luôn kết hợp với chính sách xã hội - Thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hoá, dịch vụ.
Thuế TNCN không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hoá, dịch vụ nên nó không tạo ra sự sai lệch giá cả hàng hoá dịch vụ. Chính vì vậy thuế TNCN tăng hay giảm không ảnh hưởng đến cơ cầu kinh tế. Vai trò của thuế TNCN Xuất phát từ những đặc điểm kể trên, thuế TNCN có vai trò quan trọng: 1. Đối với nên kinh tế - xã hội - Tao lập nguôn tài chính cho ngân sách nhà nước: Thuế là nguồn thu chủ yêu của ngân sách nhà nước, trong đó thuế TNCN là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành thuế nói chung nên cũng đóng góp một phan quan trọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nước.
Thuế TNCN được tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước rất là lớn. Bên cạnh đó, thuế TNCN tác động trực tiếp vào thu nhập của dân cư mà người dân của bất kỳ quốc gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng có thu nhập ngày càng cao để nâng cao đời sống vật chất tỉnh thần. Thuế 18 TNCN luôn có sự gia tăng nhanh chóng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người. - Góp phân thực hiện công bằng xã hội: Thuế TNCN luôn gắn liền với chính sách xã hội của một quốc gia.mặc dù về quan điểm hoàn thiện chính sách thuế là cần phải xây dựng một chính sách thuế có tính trung lập.
Nhưng trong thực tế chưa có một quốc gia nào tách rời hẳn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội Sự công bằng được biểu thị bởi biểu thuế lũy tiến từng phần, mức điều tiết về thuế tăng dần đều, người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều. Chính sách xã hội thông qua cơ chế giảm trừ gia cảnh và một số khoản giảm trừ trước khi tính thuế.