Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn cấp uận Chương 2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn của đề tài Chương 3. Thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân của chi cục thuế quận hà đông tp.
hà nội giai đoạn 2020-2022 Chương 4. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân của chi cục thuế quận hà đông tp. hà nội đến năm 2030 3 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN CẤP QUẬN, HUYỆN 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu trong nước về quản lý thuế liên quan đến đề tài Thuế TNCN là loại thuế ra đời chƣa lâu tại Việt Nam do vậy việc nghiên cứu Luật thuế TNCN, nghiên cứu về QLT TNCN và kiểm soát thực hiện nghĩa vụ thuế TNCN đã thu hút đƣợc sự quan tâm của khá nhiều nhà khoa học, nhà quản lý. Để có thông tin cần thiết cho đề tài nghiên cứu của mình, tác giả đã thu thập, tìm hiểu và tham khảo nội dung một số bài báo khoa học, luận văn thạc sỹ đã đuợc công nhận có liên quan với đề tài lựa chọn, cụ thể nhƣ sau: Nghiên cứu của Vũ Văn Hân (2019) “Quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục Thuế TP Điện Biên, tỉnh Điện Biên” đã dựa trên cơ sở lý luận về QLT TNCN tại các CCT, phân tích thực trạng QLT TNCN tại CCT TP Điện Biên, tỉnh Điện Biên giai đoạn 2014-2018, đánh giá việc thực hiện các mục tiêu QLT TNCN, điểm mạnh, điểm yếu trong công tác QLT TNCN của CCT thành phố Điện Biên. Bùi Thị Hồng Linh (2019) với đề tài thạc sĩ “Quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục thuế quận Hai Bà Trƣng - Thành phố Hà Nội”.
Quận Hai Bà Trƣng là một trong bốn Quận nội thành rộng lớn, trung tâm kinh tế, thƣơng mại, dịch vụ,. của thành phố Hà Nội. Chi cục thuế Hai Bà Trƣng là chi cục thuế có số thu lớn thứ 5 trong 30 Chi cục thuế quận huyện thuộc Cục Thuế thành phố Hà Nội, do vậy tác giả đã đi sâu nghiên cứu, phân tích, đánh giá các nguyên nhân các vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý thuế TNCN tại Chi cục thuế quận Hai Bà Trƣng từ đó đƣa ra một số giải pháp rất thiết thực, mong muốn hoàn thiện hơn công tác quản lý thuế TNCN tại cơ quan mà chính tác giả đang công tác. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Hải (2016) “Tăng cƣờng kiểm soát thuế thu nhập cá nhân tại Cục thuế tỉnh Đắk Lắk” bàn về việc tăng cƣờng kiểm soát thuế TNCN tại Cục thuế tỉnh Đắk Lắk.
Qua bài nghiên cứu này, tác giả đã góp phần hệ 4 thống hóa lý luận cơ bản kiểm soát thuế TNCN, về thực trạng kiểm soát thuế TNCN tại Cục thuế cũng nhƣ đề xuất phƣơng hƣớng, giải pháp tăng cƣờng kiểm soát thuế TNCN tại Cục thuế. Đề tài đã đi sâu vào phân tích môi trƣờng kiểm soát, đánh giá rủi ro trong quá trình kiểm soát thuế TNCN nói chung, việc đánh giá tình hình thực hiện kiểm soát thuế TNCN mới chỉ ở mức độ phỏng vấn công chức, ban lãnh đạo Cục thuế tỉnh Đắk Lắk mà chƣa đi sâu vào phân tích các hoạt động kiểm soát trong quy trình kiểm soát. Nghiên cứu của Lê Thị Yên (2021) “Thực trạng kiểm soát thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục Thuế khu vực Sơn Trà- Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng”. Đề tài đã đƣa ra cơ sở lý luận về kiểm soát hoạt động thu thuế TNCN, đi sâu vào các yếu tố của hoạt động kiểm soát nhƣ: mục tiêu kiểm soát, hoạt động kiểm soát, đánh giá rủi ro trong hoạt động kiểm soát, tổ chức thông tin cho hoạt động kiểm soát và hoạt động giám sát.
Đề tài đã đƣa ra thực trạng và giải pháp kiểm soát thuế TNCN tại CCT khu vực Sơn Trà- Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng theo các yếu tố đã nêu. Qua hai công trình nghiên cứu trên tác giả đã thu thập đƣợc những cơ sở lý luận của kiểm soát thuế TNCN nói chung, thực trạng và giải pháp kiểm soát thuế TNCN áp dụng tại Chi cục thuế và Cục thuế. Liên quan đến nội dung kiểm soát thuế TNCN tại các tổ chức chi trả thu nhập, các tổ chức chi trả tiền lƣơng, tiền công tác giả đã tham khảo hai luân văn thạc sĩ sau: Nghiên cứu của Bùi Công Phƣơng (2011):“Hoạt động kiểm soát thuế thu nhập các nhân đối với thu nhập từ tiền lƣơng, tiền công tại các tổ chức chi trả do Cục Thuế thành phố Đà Nẵng thực hiện” đã dựa trên cơ sở lý luận về kiểm soát quản lý, kiểm soát thuế TNCN, luận văn đi sâu nghiên cứu thực trạng hoạt động kiểm soát thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lƣơng, tiền công tại các tổ chức chi trả do Cục Thuế thành phố Đà Nẵng chỉ ra những hạn chế trong công tác kiểm soát, từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác kiểm soát thuế TNCN, tăng cƣờng chống thất thu thuế TNCN tại thành phố Đà Nẵng. Luận văn làm rõ ý nghĩa của công tác kiểm soát thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng.
Tuy nhiên, vì bài luận văn của tác giả nghiên cứu khá lâu, nhiều vấn đề về thực trạng và giải pháp tại 5 thời điểm công trình nghiên cứu đƣa ra không còn phù hợp với điều kiện hoàn cảnh hiện tại, có nhiều vấn đề mới phát sinh cần đƣợc nghiên cứu, đánh giá sâu sắc hơn. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phƣơng Uyên (2015) “Kiểm soát thuế thu nhập cá nhân tại các tổ chức chi trả thu nhập của Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp”. Luận văn bên cạnh nêu ra đƣợc các vấn đề lý luận cơ bản về thuế TNCN, công tác kiểm soát thuế TNCN, các nhân tố ảnh hƣởng tới công tác kiểm tra, kiểm soát QLT thuế TNCN tác giả đã tổng kết đƣợc một số kinh nghiệm của một số Cục thuế về kiểm soát thuế TNCN và áp dụng cho Cục thuế Đồng Tháp. Hai đề tài nghiên cứu nêu trên đã giúp tác giả có cái nhìn cụ thể hơn về kiểm soát thuế TNCN, kiểm soát thuế TNCN từ tiền lƣơng tiền công tại các tổ chức chi trả thu nhập.
Trong các công trình trên, chƣa có công trình nào đề cập đến công tác quản lý thuế TNCN tại Chi cục thuế quận Hà Đông. Do vậy, đề tài của em nghiên cứu là không trùng lắp. Những công trình nêu trên sẽ là nguồn cung cấp tài liệu tham khảo cho bản luận văn này 1. Cơ sở lý luận về quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn cấp quận, huyện 1.
Một số khái niệm cơ bản *Thu nhập chịu thuế (TNCT) Việc xác định TNCT cho thấy mức độ đóng góp của từng cá nhân đối với Ngân sách nhà nƣớc, đây là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu đƣợc quan tâm đến trong chính sách thuế TNCN của các nƣớc. TNCT là các khoản thu nhập thuộc diện tính thuế TNCN theo quy định tại Luật thuế TNCN, việc quy định khoản thu nhập nào thuộc diện tính thuế phụ thuộc vào quan điểm của từng quốc gia qua từng thời kỳ và phụ thuộc vào mục tiêu điều tiết thu nhập cũng nhƣ các mục tiêu kinh tế - chính trị - xã hội khác. Để tính đƣợc thuế TNCN phải nộp của một cá nhân, trƣớc tiên phải xác định đƣợc khoản thu nhập nào là TNCT của cá nhân đó, sau đó cơ quan thuế tiến hành tính toán thu nhập tính thuế sau khi đã trừ các khoản miễn trừ., kết hợp với thuế 6 suất sẽ xác định đƣợc số thuế TNCN từ thu nhập phát sinh của NNT sao cho NNT chấp nhận và tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thuế. Đây là mục tiêu chính của công tác quản lý thuế TNCN.
*Thuế thu nhập cá nhân Khái niệm thuế thu nhập là thuế đánh vào thu nhập của cá nhân và pháp nhân. Trong trƣờng hợp thuế đánh vào thu nhập của pháp nhân đƣợc gọi là thuế thu nhập doanh nghiệp, trƣờng hợp đánh vào thu nhập của cá nhân gọi là thuế TNCN. Ở Việt Nam, thuế TNCN dần đƣợc hoàn thiện theo thời gian. Từ năm 1991 đến trƣớc năm 2009, để phù hợp hơn với tình hình thực tế, thuế TNCN ở Việt Nam đƣợc quy định dƣới hình thức thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao.
Từ 01/01/2009, Luật thuế TNCN chính thức có hiệu lực đánh dấu bƣớc phát triển quan trọng của sắc thuế này. Đến năm 2012 Luật thuế TNCN đƣợc sửa đổi bổ sung, theo đó quan niệm về thuế TNCN ở Việt Nam cũng dần đƣợc bổ sung đầy đủ hơn:“Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận đƣợc của các cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định thƣờng một năm, từng tháng hoặc từng lần, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập” (Quốc hội, 2012). Thuế TNCN thông thƣờng đánh vào cả cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh. Thuế này đƣợc coi là loại thuế đặc biệt vì có lƣu tâm đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc miễn trừ đặc biệt.
Mục tiêu đặt ra của thuế TNCN là nhằm điều tiết thu nhập các thể nhân, đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập xã hội nên việc đánh thuế thƣờng dựa trên nguyên tắc theo khả năng của đối tƣợng nộp thuế. Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng và đƣợc thể hiện trên hai khía cạnh: Đối tƣợng chịu thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc diện phải nộp thuế trong kỳ tính thuế không phân biệt khoản thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nƣớc hay nƣớc ngoài. Đối tƣợng nộp thuế TNCN là toàn bộ những ngƣời có thu nhập phát sinh tại một quốc gia bao gồm tất cả công dân của quốc gia đó và nhƣng ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú thƣờng xuyên hay không thƣờng xuyên nhƣng có số ngày hiện diện và có thu nhập tại quốc gia đó theo mức quy định của luật thuế TNCN 7 Thuế TNCN khác với thuế thu nhập doanh nghiệp ở chỗ nó gắn liền với chính sách xã hội của mỗi quốc gia.