Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế GTGT đối với các 7 DN D trên địa bàn cấp tỉnh. Chương 2: Thực trạng quản lý thuế GTGT đối với các DN D trên địa bàn tỉnh Bình Định. Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý thuế GTGT đối với các DN D trên địa bàn tỉnh Bình Định. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1.
Cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng và doanh nghiệp xây dựng 1. Khái niệm, đặc điểm, phƣơng pháp và vai trò thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT có tên viết tắt là VAT từ cụm từ tiếng Anh Value Added Tax. Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế GTGT vào năm 1954.
Khai sinh từ nước Pháp, thuế GTGT đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Căn cứ theo Điều 2, Luật Thuế GTGT năm 2008 quy định: thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Và được nộp vào ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ [20]. Như vậy, theo quy định của luật thuế GTGT hiện hành thì khái niệm về thuế GTGT được hiểu như sau: Thuế GTGT là loại thuế được tính toán dựa trên phần giá trị tăng thêm của dịch vụ, hàng hóa phát sinh trong từng giai đoạn của toàn bộ quá trình bắt đầu từ sản xuất sang lưu thông và đến tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ đó.
Thuế GTGT không áp dụng trên toàn bộ giá trị của dịch vụ hay sản phẩm mà chỉ áp dụng đối với phần giá trị tăng thêm của dịch vụ hoặc sản phẩm đó mà thôi. Đặc điểm thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT là một loại thuế độc lập. Thuế GTGT có những đặc điểm sau: Thứ nhất, Là loại thuế gián thu Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ. Thuế GTGT còn được phát sinh đến khâu cuối cùng là tiêu dùng.
Người tiêu dùng s là người chịu thuế. 9 Thứ hai, Là loại thuế có đối tượng chịu thuế lớn Hầu như mọi đối tượng trong xã hội s phải chịu thuế GTGT. Việc đánh thuế trên phạm vi lãnh thổ với mọi đối tượng thể hiện sự công b ng của thuế. Đồng thời thể hiện thái độ của Nhà nước đối với các loại tiêu dùng trong xã hội.
Đối với trường hợp cần khuyến khích tiêu dùng hoặc hạn chế việc trả tiền thuế của người tiêu dùng, Nhà nước s không đánh thuế hoặc đánh thuế với mức thuế suất thấp nhất. Thứ ba, Là loại thuế chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt thuế GTGT với những loại thuế gián thu khác. Thuế GTGT ở tất cả các khâu. Từ quá trình sản xuất đến quá trình lưu thông hàng hóa và cả quá trình tiêu dùng.
Việc đánh thuế chỉ trên phần giá trị tăng thêm mà không phải đối với toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ. Thứ tư, Số thuế phải nộp sẽ phụ thuộc vào giai đoạn đánh thuế Như đã nói ở trên, thuế GTGT đánh ở tất cả các khâu, các giai đoạn. Từ khâu sản xuất đến khâu tiêu dùng. Ở mỗi giai đoạn có số thuế GTGT khác nhau.
Từ khâu sản xuất đến khâu lưu thông, số thuế GTGT là một con số. Từ khâu lưu thông đến khâu tiêu dùng thì số thuế GTGT đã khác. Tổng số thuế nộp ở các khâu chính là số thuế cuối cùng tính trên tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ. Và người tiêu dùng s mua và phải gánh chịu.
Thứ năm, Thuế GTGT mang tính xã hội cao Thuế GTGT mang tính xã hội hóa cao, đòi hỏi người nộp thuế phải có ý thức trong việc chấp hành chính sách thuế nói chung và chính sách về thuế GTGT nói riêng. Đặc biệt trong mô hình quản lý theo chức năng, người nộp thuế tự tính tự khai, tự nộp hiện nay. Thứ sáu, Thuế GTGT có tính trung lập cao Thuế GTGT không phải là yếu tố chi phí. Nó là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ; Thuế GTGT ít mức thuế suất.
Theo quy định hiện hành, thuế GTGT chỉ có 3 mức thuế suất là 0%, 5% và 10%. Số thuế phát sinh không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của 10 người nộp thuế; Không chịu ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức, phân chia S KD vì tổng số thuế các khâu b ng số thuế trên giá bán cuối; Phạm vi áp dụng chỉ trong lãnh thổ Việt Nam nên tạo ra sự công b ng trong giao dịch quốc tế (xuất khẩu, nhập khẩu). Đối tượng và thuế suất nộp thuế giá trị gia tăng Căn cứ Điều 4, Luật Thuế GTGT năm 2008 (sửa đổi 2013, 2016) quy định: Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân SXKD hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT. Căn cứ vào Điều 9, Điều 10, Điều 11 Thông tư 219/2013/TT-BTC thì có 03 mức thuế suất thuế giá trị gia tăng là 0%, 5% và 10%.
Thuế suất 0% là mức thuế suất áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu. Thuế suất 5% là mức thuế suất áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phục vụ cho sản suất và tiêu dùng như: nước sạch, phân bón, thuốc trừ sâu, sản phẩm trồng trọt… Thuế suất 10% là mức thuế suất áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ không được quy định tại danh mục 0% và 5% (trừ những loại hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT). Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT được tính chung vào giá cả hàng hóa, dịch vụ và các chủ thể kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có vai trò như “người thu hộ” tiền thuế GTGT từ người tiêu dùng và nộp vào NSNN thông qua nghĩa vụ kê khai và nộp thuế. Có hai phương pháp tính thuế GTGT: Phương pháp khấu trừ và phương pháp tính trực tiếp.
* Phương pháp khấu trừ thuế GTGT Đứng từ vị trí của doanh nghiệp, họ cũng có nhu cầu mua sắm nguyên vật liệu hoặc sử dụng các dịch vụ trong quá trình sản xuất nên phát sinh thuế GTGT đầu vào, là khoản thuế GTGT mà doanh nghiệp trả cho nhà cung cấp nguyên vật liệu. Khi doanh nghiệp sử dụng nguyên vật liệu này để sản xuất ra hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng thì khoản thuế GTGT n m trong giá bán mà người tiêu dùng chi trả là thuế GTGT đầu ra. Số thuế GTGT phải nộp = Số thuế GTGT đầu ra - Số thuế GTGT đầu 11 vào được khấu trừ Số thuế GTGT đầu ra = Tổng số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn GTGT Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ = Tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ, chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hóa nhập khẩu. Phương pháp này áp dụng với doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định pháp luật có doanh thu hàng năm từ 1.000 đồng trở lên hoặc tự nguyện áp dụng.
* Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Số thuế GTGT phải nộp b ng GTGT nhân với thuế suất thuế GTGT: Áp dụng với hoạt động mua bán, chế tác vàng, bạc, đá quý. Số thuế GTGT phải nộp b ng t lệ % nhân với doanh thu: Áp dụng với doanh nghiệp có doanh thu dưới 1 t đồng (nếu không tự nguyện đăng ký sử dụng phương pháp khấu trừ thuế) hoặc không thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ. Về hóa đơn chứng từ: Nếu nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế: Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế sử dụng hóa đơn GTGT; hóa đơn phải được ghi đầy đủ, đúng nội dung quy định, bao gồm cả khoản phụ thu, phí thu thêm (nếu có). Trường hợp bán hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT mà trên hóa đơn GTGT không ghi khoản thuế GTGT thì thuế GTGT đầu ra được xác định b ng giá thanh toán ghi trên hóa đơn nhân với thuế suất thuế GTGT.
Nếu nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT: Sử dụng hóa đơn bán hàng. Theo Thông tư số 09/2019/TT-B D ngày 26/12/2019, hướng dẫn xác định và Quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Tại phụ lục số 3 Ban hành kèm theo Thông tư số 09/2019/TT-B D ngày 26/12/2019 của Bộ trưởng Bộ ây dựng, quy định định mức thu nhập trước thuế. tỉ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp trên doanh thu tối thiểu đối với công trình dân dụng là: 5,5 x 20% =1,1%.
Định mức thu nhập chịu thuế tính trƣớc Đơn vị tính: % THU NHẬP CHỊU STT LOẠI CÔNG TRÌNH THUẾ TÍNH TRƢỚC 1 Công trình dân dụng 5,5 2 Công trình công nghiệp 6,0 3 Công trình giao thông 6,0 4 Công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn 5,5 5 Công trình hạ tầng kỹ thuật 5,5 Công tác lắp đặt thiết bị công nghệ trong các công trình xây dựng, công tác xây lắp đường 6 dây, thí nghiệm hiệu chỉnh điện đường dây và 6,0 trạm biến áp, thí nghiệm vật liệu, cấu kiện và kết cấu xây dựng. Vai trò của thuế giá trị gia tăng Một là, thuế GTGT là sắc thuế có nguồn thu quan trọng của NSNN. Thuế GTGT là nguồn thu quan trọng và ổn định cho NSNN của một quốc gia. Thuế GTGT huy động và xác định ngay từ khâu đầu và việc thu thuế GTGT ở khâu sau còn kiểm tra việc tính thuế GTGT đã nộp ở khâu trước nên hạn chế được việc thất thu thuế, kiểm soát được nguồn thu trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế.
Thuế GTGT đã và đang ngày một phát huy vai trò của thuế GTGT trong nền KTTT đầy biến động, đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn của một sắc thuế trong điều kiện KTTT. Hai là, thuế GTGT góp phần điều tiết vĩ mô, vi mô nền kinh tế. Thông qua công cụ thuế nó tác động và làm thay đổi mối quan hệ cung và cầu trên thị trường từ đó tác động đến sự đầu tư, sản suất và việc lựa chọn hàng hóa để S KD và tiêu dùng. Từ đó góp phần điều tiết sản suất và và tiêu dùng; khuyến khích xuât khẩu hàng hóa; điều tiết thu nhập, đảm bảo tính công b ng xã hội; khuyến khích tăng năng suất, phát triển kinh tế xã hội.