phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn bao gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Cục thuế tỉnh Thanh Hóa. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Cục thuế tỉnh Thanh Hóa. 5 Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.
Quá trình hình thành và phát triển Chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN, Đảng và Nhà nƣớc ta đang thực hiện những đƣờng lối đổi mới chính sách kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nƣớc, tiến tới xu hƣớng toàn cầu hóa. Vì thế thuế doanh thu không còn phù hợp nữa và cần đƣợc thay thế bằng một loại thuế mới hiện đại đã đƣợc áp dụng ở hầu hết các nƣớc phát triển trên thế giới là thuế GTGT. Ngày 05/07/1993, theo quyết định số 486TC/QĐ/BTC của Bộ Tài chính, thực hiện thí điểm thuế GTGT ở một số DN quốc doanh thuộc các ngành có quá trình chuyển từ sản xuất đến tiêu dùng thƣờng xuyên phải trải qua nhiều công đoạn (nhƣ sản xuất xi măng, sản xuất sợi, dệt, sản xuất đƣờng). Có tất cả 11 DN đăng kí và thực hiện thí điểm.
Nhà nƣớc liên tục thực hiện cải cách thuế bƣớc 1(1990 - 1996) và cải cải cách thuế bƣớc 2. Sau một thời gian tổ chức triển khai thực hiện luật thuế GTGT, tại kỳ họp Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 11 dự thảo luật thuế GTGT đã đƣợc thông qua dƣới sự chỉ đạo của Chính phủ, ban soạn thảo đã tích cực chuẩn bị các văn bản hƣớng dẫn thi hành luật thuế. Luật thuế GTGT số 02/1997/QH9 ngày 10/5/1997 đã đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 11 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay thế thuế doanh thu trƣớc đây, các văn bản hƣớng dẫn thi hành đã đƣợc ban hành. Đến ngày 31/12/1998 (trƣớc ngày luật thuế GTGT có hiệu lực thi hành) về cơ bản đã có đủ các văn bản hƣớng dẫn thực hiện luật thuế này.
Ngày 01/01/1999 tại Việt Nam, luật thuế GTGT chính thức đƣợc áp dụng trên toàn quốc theo Nghị định số 18/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 và thông tƣ số 89/1998/TT-BTC ngày 27/6/1998. 6 Đến nay, để phù hợp và thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội đồng thời hội nhập quốc tế và theo thỏa thuận của các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên nhƣ: Hiệp hội Đông Nam Á ASEAN, Tổ chức Thƣơng mại Thế giới WTO, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dƣơng APEC, Quốc hội đã ban hành Luật, Chính phủ ban hành Nghị định hƣớng dẫn, Bộ Tài chính hƣớng dẫn cụ thể tại các Thông tƣ về thuế GTGT: - Luật Thuế GTGT số 13/2008/QH12 hiệu lực ngày 01/01/2009 thay thế Luật thuế GTGT năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT số 07/2003/QH11; - Luật Thuế GTGT số 31/2013/QH13 ban hành ngày 19/6/2013 sửa đổi luật số 13/2008/QH12 - Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 - Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế GTGT, luật thuế tiêu thụ đặc biệt và luật quản lý thuế số 106/2016/QH13 ngày 06/4/2016. - Thông tƣ 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hƣớng dẫn thi hành luật thuế GTGT và nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều luật thuế GTGT. - Một số thông tƣ sửa đổi Thông tƣ 219: Thông tƣ 119/2014/TT- BTC ngày 25/08/2014; Thông tƣ 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014; Thông tƣ 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015; Thông tƣ 130/2016/TT-BTC ngày 12/08/2016; Thông tƣ 173/2016/TT-BTC ngày 28/10/2016; Thông tƣ 93/2017/TT-BTC ngày 19/09/2017.
Khái niệm và đặc điểm thuế GTGT - Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng (Theo điều 2 – Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12). 7 GTGT là phần giá trị mới đƣợc tạo ra trong sản xuất kinh doanh. Nó đƣợc xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất ra với tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào tƣơng ứng. Thuế GTGT phải nộp ở mỗi khâu đƣợc tính bằng cách lấy số thuế GTGT đầu ra trừ số thuế GTGT đầu vào tƣơng ứng.
Lê Hoằng Bá Huyền, PGS-TS Nguyễn Thị Bất (2016) thì thuế có những đặc điểm nhƣ sau: + Thuế GTGT là loại thuế gián thu đánh vào đối tƣợng tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT; là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa và dịch vụ, là khoản thu đƣợc cộng thêm vào giá bán của ngƣời cung cấp, hay nói cách khác giá cả hàng hoá, dịch vụ mà ngƣời tiêu dùng mua bao gồm cả thuế GTGT. + Thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ. Trong đó tổng số thuế GTGT thu đƣợc ở các giai đoạn sẽ bằng thuế của GTGT tính trên giá bán cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng. + Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao, tính trung lập biểu hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hƣởng bởi kết quả kinh doanh của NNT, do NNT chỉ là ngƣời “thay mặt” ngƣời tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN.
Do vậy thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là khoản thu đƣợc cộng thêm vào giá bán của ngƣời cung cấp hàng hoá dịch vụ. Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hƣởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít [17; tr 87-90]. Về phạm vi đánh thuế: Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Mục đích của thuế GTGT Theo TS.
Lê Hoằng Bá Huyền, PGS-TS Nguyễn Thị Bất (2016) thì mục đích của thuế GTGT là: + Thuế GTGT thuộc loại thuế gián thu và đƣợc áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hoá hoặc đƣợc cung ứng dịch vụ, nên tạo đƣợc nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn và tƣơng đối ổn định cho NSNN, thuế GTGT đƣợc thu tập trung ngay từ khâu đầu và thu thuế ở khâu sau còn kiểm tra đƣợc việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trƣớc nên hạn chế đƣợc việc thất thu thuế. Thuế tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ nên không phải đi sâu xem xét, phân tích về tính hợp lý, hợp lệ của các khoản chi phí, làm cho việc tổ chức quản lý thu tƣơng đối dễ dàng hơn các loại thuế trực thu. + Thuế GTGT khuyến khích đầu tƣ phát triển sản xuất kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, khắc phục đƣợc tình trạng thu thuế trùng lắp. Khuyến khích đầu tƣ phát triển sản xuất kinh doanh: Vì thuế GTGT là thuế chỉ đánh vào phần GTGT, không thu vào vốn đầu tƣ nên có tác dụng khuyến khích các DN đầu tƣ mở rộng sản xuất, thay đổi dây chuyền công nghệ, ngoài ra các DN còn đƣợc khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT đầu vào khi đầu tƣ mua sắm nên thuế GTGT khuyến khích các DN đầu tƣ mở rộng sản xuất.
Ðối với hàng xuất khẩu không những không nộp thuế GTGT mà còn đƣợc khấu trừ hoặc đƣợc hoàn lại số thuế GTGT đầu vào nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trƣờng quốc tế. Thuế GTGT khắc phục đƣợc nhƣợc điểm thu thuế trùng lắp, chồng chéo qua nhiều khâu của thuế doanh thu trƣớc đây. 9 + Thực hiện thuế GTGT có tác dụng tăng cƣờng công tác hạch toán kế toán của DN vì việc tính thuế ở đầu ra, đƣợc khấu trừ số thuế đầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy cả ngƣời mua hàng và ngƣời bán hàng cùng thực hiện tốt hơn chế độ hoá đơn, chứng từ. + Thực hiện thuế GTGT góp phần tăng cƣờng hệ thống chính sách thuế ở Việt Nam, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng, tạo điều kiện mở rộng hợp tác kinh tế với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới [17; tr 86] Thuế GTGT đƣợc ban hành gắn liền với việc sửa đổi, bổ sung một số loại thuế khác nhƣ thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu.góp phần làm cho hệ thống chính sách thuế của Việt Nam ngày càng tăng cƣờng, phù hợp với sự vận động và phát triển của nền kinh tế thị trƣờng, tƣơng đồng với hệ thống thuế trong khu vực và trên thế giới, góp phần đẩy mạnh việc mở rộng hợp tác kinh tế và thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam.
Nhìn chung trong các loại thuế gián thu, thuế GTGT đƣợc coi là phƣơng pháp thu tiến bộ nhất hiện nay, đƣợc đánh giá cao do đạt đƣợc các mục tiêu lớn của chính sách thuế. Tuy nhiên, trong thời gian đầu áp dụng thuế GTGT đã phát sinh một số khó khăn, vƣớng mắc và Nhà nƣớc đã từng bƣớc tháo gỡ những khó khăn trong quá trình thực hiện Luật GTGT. Những nội dung cơ bản về thuế GTGT Theo Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 13/6/2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế GTGT số 31/2013/QH13 ngày 19/6/2013; Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT; Thông tƣ số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hƣớng dẫn thi hành Luật thuế GTGT và các văn bản hƣớng dẫn sửa đổi, bổ sung. Theo đó, các nội dung cơ bản của thuế GTGT ở Việt Nam nhƣ sau: 1.1 Phạm vi áp dụng - Đối tƣợng chịu thuế GTGT: 10 Tại điều 2, Thông tƣ 219/2013/TT-BTC và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP quy định: Đối tư ng chịu thuế T T là HHD d ng cho sản u t kinh doanh và tiêu d ng ở iệt Nam ao gồm cả HHD mua của t chức cá nh n ở nư c ngoài tr các đối tư ng không chịu thuế T T theo quy định hiện hành .