CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄNVỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP FDI 1. Cơ sở lý luận về quản lý thuế đối với doanh nghiệp FDI 1.Tổng quan về quản lý thuế 1. Các khái niệm về quản lý thuế Trong cuốn Tài chính công của Nhà xuất bản Tài chính thì “Quản lý thuế là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu NSNN thực hiện. Đó là những hoạt động thường xuyên của cơ quan thu hướng về phía đối tượng nộp nhằm đảm bảo thu thuế đầy đủ, kịp thời và đúng luật định”.
Theo tài liệu đào tạo nghiệp vụ thanh tra viên thuế - Tổng cục Thuế (2010), quản lý thuế là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan Thuế nhằm đảm bảo người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật. Quản lý thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy Nhà nước, thuộc lĩnh vực hành pháp và tư pháp về thuế của cơ quan Thuế các cấp, với các chức năng nhiệm vụ quyền hạn do luật định, nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua. Nói cách khác, quản lý thuế là khâu tổ chức thực hiện chính sách thuế của cơ quan Thuế các cấp, là việc định ra một hệ thống các tổ chức, phân công trách nhiệm cho các tổ chức này, xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính sách thuế nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra. Quản lý thuế là một dạng của quản lý xã hội kể từ khi có nhà nước.
Hoạt động quản lý thuế có phạm vi khá rộng với nhiều nội dung khác nhau. Bởi vậy, quản lý thuế cũng có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo nghĩa rộng, quản lý thuế là tất cả các hoạt động của Nhà nước liên quan đến thuế. Bao gồm hoạt động tổ chức điều hành quá trình thu nộp thuế vào Ngân sách nhà nước, hoạt động xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành pháp luật thuế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Theo nghĩa hẹp, quản lý thuế là quản lý hành chính Nhà nước về thuế, bao gồm việc tổ chức, quản lí, điều hành quá trình thu nộp thuế (hoạt động chấp hành của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền - cơ quan quản lý thuế) trong quản lý thu nộp thuế cho Nhà nước từ các tổ chức, cá nhân là đối tượng nộp thuế đã được xác định trong Luật quản lý thuế. Theo Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 21/2012/QH13, Luật số 71/2014/QH13 và Luật số 106/2016/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, Quản lý thuế bao gồm: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; hoàn thuế, miễn thuế,giảm thuế, không thu thuế; khoanh tiền thuế nợ, xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt, miễn tiền chậm nộp, tiền phạt, không tính tiền chậm nộp; gia hạn nộp thuế, nộp dần tiền thuế nợ; quản lý thông tin người nộp thuế; quản lý hóa đơn, chứng từ; kiểm tra thuế, thanh tra thuế và thực hiện biện pháp phòng, chống, ngăn chặn vi phạm pháp luật về thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế; xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế; hợp tác quốc tế về thuế; tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế. Để phù hợp với pháp luật hiện tại ở nước ta, luận văn sử dụng khái niệm quản lý thuế theo nghĩa hẹp.Các đặc trưng cơ bản của quản lý thuế Thứ nhất, về bản chất, quản lý thuế là một bộ phận của quản lý tài chính công. Vì vậy quản lý thuế phải tuân thủ các nguyên tắc quản lý tài chính công nói chung và quản lý nguồn thu của NSNN nói riêng.
Thứ hai, về chủ thể trong quan hệ quản lý thuế: - Chủ thể có trách nhiệm quản lý thuế trước hết là thuộc về Nhà nước mà trực tiếp là hệ thống cơ quan quản lý thuế gồm cơ quan Thuế và cơ quan Hải quan thuộc Bộ Tài chính. Ngoài ra, do thuế là tài sản quốc gia để phục vụ lợi ích cho toàn xã hội, nên trách nhiệm tham gia quản lý thuế còn là trách nhiệm của mọi cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong xã hội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Đối tượng chịu sự quản lý thuế của Nhà nước là người nộp thuế được xác định trong các Luật thuế cụ thể do Nhà nước ban hành và các chủ thể phải nộp các khoản thu NSNN khác do cơ quan quản lý thuế quản lý như: Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm khấu trừ thuế; tổ chức làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế và tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến quản lý thuế. Thứ ba, mục tiêu của quản lý thuế là nhằm: Bảo đảm tập trung huy động đầy đủ, kịp thời các nguồn thu từ thuế cho NSNN; tối thiểu hóa chi phí quản lý thuế của Nhà nước và chi phí tuân thủ của người nộp thuế; phát huy tốt vai trò của công cục thuế trong nền kinh tế thị trường; tăng cường sự tuân thủ thuế của người nộp thuế một cách tự nguyện, đầy đủ, kịp thời theo các quy định của luật thuế và bảo đảm lợi ích của Nhà nước, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế.
Trong các mục tiêu nói trên, mục tiêu tăng cường sự tuân thủ thuế là mục tiêu cơ bản nhất để đạt được các mục tiêu còn lại trong quản lý thuế. Thứ tư, hoạt động quản lý thuế là hoạt động đặc thù, được điều chỉnh bằng cách quy phạm pháp luật chuyên ngành (Luật Quản lý thuế) và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Thứ năm, quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý phức tạp, bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau. Bởi vậy, muốn nâng cao hiệu quả quản lý thuế cần có giải pháp đồng bộ, tác động đến nhiều mặt của hoạt động quản lý thuế thì Nhà nước mới có thể đạt được mục tiêu nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả trong quản lý thuế.Quản lý thuế đối với doanh nghiệp FDI 1.Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp FDI Doanh nghiệp FDI là một loại hình doanh nghiệp hình thành và phát triển bắt nguồn từ hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nên loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm riêng, khác biệt với các loại hình doanh nghiệp khác.
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, dù hình thức đầu tư là doanh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nghiệp liên doanh hay doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài nhưng điều được thành lập dưới dạngdưới dạng các Công ty trách nhiệm hữu hạn. Do đó trong quá trình hoạt động, cũng như khi thanh lý hợp đồng, xử lý tranh chấp đều tiến hành áp dụng những quy định của loại hình Công ty trách nhiệm hữu hạn. - Trong hoạt động của các doanh nghiệp có sự tham gia của đối tác nước ngoài, chủ yếu là Công ty đa quốc gia (chiếm 90% số lượng vốn đầu tư trực tiếp FDI trên thế giới). Khi đầu tư vào các quốc gia khác các công ty đa quốc gia có thể lựa chọn nhiều hình thức.
Nhưng dưới hình thức nào thì chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu theo luật đầu tư của mỗi nước. Việt Nam quy định chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu 30% pháp định của dự án. - Quyền quản lý doanh nghiệp cũng như mức độ chịu trách nhiệm về hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn. nếu chủ đầu tư nước ngoài góp 100% vốn thì doanh nghiệp hoàn toàn do họ quản lý, điều hành.
- Nhìn chung do nắm tỷ lệ vốn lớn nên đối tác nước ngoài thường nằm quyền chủ động trong các doanh nghiệp. Bởi vậy cơ cấu tổ chức cũng như quản lý điều hành hoạt động của các doanh nghiệp này chịu ảnh hưởng rõ nét, mang phong cách của các công ty đa quốc gia nước ngoài. - Khi tiến hành đầu tư nước ngoài trực tiếp, động cơ chung của các nhà đầu tư nước ngoài là tìm kiếm một thị trường hấp dẫn, thuận lợi và an toàn nhằm thu được lợi nhuận cao và đảm bảo khả năng phát triển lâu dài của doanh nghiệp.Nguyên tắc, mục tiêu quản lý thuế đối với doanh nghiệp FDI Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Quản lý thuế là điều khiển, tổ chức hoạt động thu thuế của một quốc gia theo pháp luật về quản lý thuế để thực hiện các chính sách thuế nhằm đạt được mục tiêu đã định.
Quản lý thuế trong điều kiện dân chủ hóa đời sống kinh tế xã hội có thể Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 coi là sự kết hợp giữa yếu tố tâm lý và yếu tố tổ chức, điều khiển hoạt động thu thuế để triển khai thực hiện các chính sách thuế nhằm đạt được các mục tiêu đã định. Doanh nghiệp FDI hay doanh nghiệp liên doanh giữa nước ngoài và các đối tác trong nước đều phát sinh nghĩa vụ thuế đối với NSNN được gọi chung là “người nộp thuế”, do đó khái niệm quản lý thuế đối với doanh nghiệp FDI cũng không nằm ngoài khái niệm chung về quản lý thuế. Nguyên tắc quản lý thuế đối với doanh nghiệp FDI không nằm ngoài nguyên tắc quản lý thuế nói chung. a) Tuân thủ pháp luật: Nguyên tắc này chi phối hoạt động của các bên trong quan hệ quản lý thuế bao gồm cả cơ quan Nhà nước và người nộp thuế.
Nội dung của nguyên tắc này là quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý; quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế đều do pháp luật quy định. Trong quan hệ quản lý, các bên liên quan có thể được lựa chọn những hoạt động nhất định nhưng phải trong phạm vi quy định của pháp luật về quản lý thuế. b) Đảm bảo tính hiệu quả: Giống như mọi hoạt động quản lý khác, hoạt động quản lý thuế phải tuân thủ nguyên tắc hiệu quả.