Chương 1: Những vấn đề chung về quản lý của cơ quan thuế địa phương đối với thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chương 2: Thực trạng quản lý của Cục thuế tỉnh Phú Thọ đối với thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2010 - 2014. Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý của Cục Thuế tỉnh Phú Thọ đối với thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đến năm 2020. 5 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ CỦA CƠ QUAN THUẾ ĐỊA PHƢƠNG ĐỐI VỚI THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI 1.
Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài và thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài 1. Khái quát về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1. Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Doanh nghiệp có vốn ĐTNN bao gồm những doanh nghiệp do nhà ĐTNN thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại nước nhận đầu tư; hoặc doanh nghiệp nước sở tại do nhà ĐTNN mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Nhà ĐTNN là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại nước sở tại.
Trên thực tế, DN có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư dưới các hình thức đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Trong đó, đầu tư trực tiếp thường dưới hình thức trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp. Còn đầu tư gián tiếp là đầu tư thông qua mua bán cổ phiếu, hoặc thông qua các định chế quỹ và không tham gia quản lý doanh nghiệp. Pháp luật hiện hành quy định tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Bên cạnh các quy định của pháp luật áp dụng chung, phù hợp với các cam kết quốc tế, để thuận lợi cho công tác quản lý đầu tư, pháp luật về doanh nghiệp và về đầu tư áp dụng riêng đối với đầu tư nước ngoài, nước sở tại thường có những quy định riêng về lĩnh vực đầu tư có điều kiện, về quy định trong việc thành lập công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, về thủ tục đầu tư, về đầu mục hồ sơ dự án đầu tư và về địa điểm thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp. Các tác động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Việc thu hút, sử dụng vốn đầu tư nước ngoài thời gian qua cơ bản đã đáp ứng những mục tiêu đề ra về thu hút vốn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng năng suất lao động, tiếp thu công nghệ và kinh nghiệm quản lý hiện đại. Bên cạnh những lợi ích hiển nhiên to lớn đó, vẫn tồn tại những tác động tiêu cực. Tác động tích cực - Là nguồn hỗ trợ cho phát triển: Doanh nghiệp có vốn ĐTNN là cơ sở tạo ra công ăn việc làm trong nước, đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động.
Từ đó tạo tiền đề tăng thu nhập, tăng tích lũy cho sự phát triển của xã hội. Vốn đầu tư nước ngoài góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng khả năng xuất khẩu của nước sở tại, thu một phần lợi nhuận từ các công ty nước ngoài, thu ngoại tệ từ các hoạt dộng dịch vụ cho đầu tư. - Chuyển giao công nghệ: Lợi ích quan trọng mà ĐTNN mang lại đó là công nghệ khoa học hiện đại, kỹ xảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến. Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ đầu tư không chỉ có vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu.; trí thức khoa học, bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị thường.
Do vậy, về lâu dài đây chính là lợi ích căn bản nhất. ĐTNN còn thúc đẩy đào tạo những kỹ sư, những nhà quản lý có trình độ chuyên môn để tham gia vào các công ty liên doanh với nước ngoài. Trong điều kiện hiện nay, trên thế giới có nhiều công ty của nhiều quốc gia khác nhau có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài và thực hiện chuyển giao công nghệ cho nước nào tiếp nhận đầu tư. Thì đây là cơ hội cho các nước đang phát triển có thể tiếp thu được các công nghệ thuận lợi nhất.
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Thực tiễn và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, quốc gia nào thực hiện chiến lược kinh tế mở cửa với bên ngoài, biết tranh thủ và phát huy tác dụng của các nhân tố bên ngoài biến nó thành những nhân tố bên trong thì quốc gia đó tạo được tốc độ tăng trưởng cao. Mức tăng trưởng ở các nước đang phát triển thường do nhân tố tăng đầu tư, nhờ đó các nhân tố khác như tổng số lao động được sử dụng, năng suất lao động cũng tăng lên theo. Rõ ràng hoạt 7 động đầu tư nước ngoài đã góp phần tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển. Nó là tiền đề, là chỗ dựa để khai thác những tiềm năng to lớn trong nước nhằm phát triển nền kinh tế.
- Thúc đẩy quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế: Yêu cầu dịch chuyển nền kinh tế không chỉ đòi hỏi bản thân sự phát triển nội tại nền kinh tế, mà còn là đòi hỏi xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay. Đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại. Các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình phân công lao động quốc tế. Để hội nhập vào nền kinh tế giữa các nước trên thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế.
Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế phù hợp với trình độ chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoài. Ngược lại, chính hoạt động đầu tư lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế. Thông qua hoạt động đầu tư nước ngoài làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành kinh tế mới ở các nước sở tại. ĐTNN giúp phát triển nhanh chóng trình độ kỹ thuật công nghệ ở nhiều nghành kinh tế, một số ngành được kích thích phát triển bởi đầu tư nước ngoài, nhưng cũng có nhiều ngành bị mai một đi, rồi đi đến chỗ bị xóa bỏ.
- Đóng góp vào nguồn thu ngân sách: Đóng góp phần đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà nước thông qua việc nộp thuế của các đơn vị đầu tư và tiền thu tư việc cho thuê đất. Đầu tư nước ngoài cũng đóng góp cải thiện cán cân quốc tế cho nước sở tại. Bởi vì hầu hết các dự án đầu tư nước ngoài là sản xuất các sản phẩm hướng vào xuất khẩu, phần đóng góp của tư bản nước ngoài và việc phát triển xuất khẩu là khá lớn trong nhiều nước đang phát triển. Cùng với việc tăng khả năng xuất khẩu hàng hóa, đầu tư nước ngoài còn mở rộng thị trường cả trong nước và ngoài nước.
Đa số các dự án đầu tư nước ngoài đều có phương án bao tiêu sản phẩm. Đây gọi là hiên tượng “hai chiều” đang trở nên khá phổ biến ở nhiều nước đang phát triển hiện nay. Về mặt xã hội, đầu tư nước ngoài đã tạo ra nhiều chỗ làm việc mới, thu hút một khối lượng đáng kể người lao động ở nước sở tại vào làm việc tại các đơn vị 8 của ĐTNN. Điều đó góp phần đáng kể vào việc làm giảm bớt nạn thất nghiệp vốn là một tình trạng nan giải của nhiều quốc gia.
Đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, nơi có lực lượng lao động rất phong phú nhưng không có điều kiện khai thác và sử dụng được. Thì đầu tư nước ngoài được coi là chìa khóa quan trọng để giải quyết vấn đề trên đây. Vì đầu tư nước ngoài tạo ra được các điều kiện về vốn và kỹ thuật, cho phép khai thác và sử dụng các tiềm năng về lao động. Tuy nhiên sự đóng góp của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN đối với việc làm trong nước phụ thuộc rất nhiều vào chính sách và khả năng kỹ thuật của nước đó.
Tác động tiêu cực - Phụ thuộc về kinh tế đối với các nước nhận đầu tư Doanh nghiệp có vốn ĐTNN thường là các Chi nhánh của Các Công ty đa quốc gia, đã làm nảy sinh nỗi lo rằng các công ty này sẽ tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế của nước sở tại vào vốn, kỹ thuật và mạng lưới tiêu thụ hàng hóa của các công ty xuyên quốc gia này. Đầu tư nước ngoài góp phần vốn bổ sung quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế và thực hiện chuyển giao công nghệ cho các nước sở tại. Đồng thời cũng thông qua các công ty xuyên quốc gia là những bên đối tác nước ngoài để có thể tiêu thụ hàng hóa vì các công ty này nắm hầu hết các kênh tiêu thụ hàng hóa từ nước này sang nước khác. Vậy nếu càng dựa nhiều vào đầu tư nước ngoài, thì sự phụ thuộc của nền kinh tế vào các nước công nghiệp phát triển càng lớn.
Và nếu nền kinh tế dựa nhiều vào đầu tư nước ngoài thì sự phát triển của nó chỉ là một phồn vinh giả tạo. Sự phồn vinh có được bằng cái của người khác. Nhưng vấn đề này có xảy ra hay không còn phụ thuộc vào chính sách và khả năng tiếp nhận kỹ thuật của từng nước. Nếu nước nào tranh thủ được vốn, kỹ thuật và có ảnh hưởng tích cực ban đầu của đầu tư nước ngoài mà nhanh chóng phát triển công nghệ nội địa, tạo nguồn tích lũy trong nước, đa dạng hóa thị trrường tiêu thụ và tiếp nhận kỹ thuật mới cũng như đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai trong nước thì sẽ được rất nhiều sự phụ thuộc của các công ty đa quốc gia.
9 - Trong một số các nhà đầu tư không phải không có trường hợp hoạt động tình báo, gây rối an ninh chính trị. Thông qua nhiều thủ đoạn khác nhau theo kiểu “diễn biến hòa bình”. Có thể nói rằng sự tấn công của các thế lực thù địch nhằm phá hoại ổn định về chính trị của nước sở tại luôn diễn ra dưới mọi hình thức tinh vi và xảo quyệt.