phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục nghiên cứu, luận án gồm có 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lí thực tập sƣ phạm trong đào tạo giáo viên trung học phổ thông theo định hƣớng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học. Chƣơng 2: Cơ sở thực tiễn của quản lí thực tập sƣ phạm trong đào tạo giáo viên trung học phổ thông theo định hƣớng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học. Chƣơng 3: Các giải pháp quản lí thực tập sƣ phạm trong đào tạo giáo viên trung học phổ thông theo định hƣớng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học. 8 CHƢƠNG 1 CƠ Sở LÍ LUậN Về QUảN LÍ THựC TậP SƢ PHạM TRONG ĐÀO TạO GIÁO VIÊN TRUNG HọC PHổ THÔNG THEO ĐịNH HƢớNG CHUẩN NGHề NGHIệP GIÁO VIÊN TRUNG HọC 1.
TổNG QUAN NGHIÊN CứU VấN Đề 1. Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài Do vai trò, ý nghĩa quan trọng của quản lí TTSP trong ĐTGV, các quốc gia đều quan tâm đến quản lí TTSP. Tuy nhiên, do những khác biệt về truyền thống, điều kiện lịch sử, văn hóa, phát triển của mỗi quốc gia nên các quốc gia khác nhau (và ngay cả trong một vài quốc gia) có mô hình ĐTGV THPT khác nhau. Quản lí TTSP trong các mô hình ĐTGV khác nhau sẽ không giống nhau.
- Xây dựng nội dung thực tập sư phạm Hoa Kì là quốc gia có nền giáo dục phát triển trên thế giới, đƣợc các nhà nghiên cứu giáo dục đánh giá cao, song nội dung TTSP ở các cơ sở ĐTGV ở Hoa Kì vẫn chƣa chú trọng đúng mức đến việc rèn luyện kĩ năng SP. Do vậy, nhìn chung các cơ sở ĐTGV ở Hoa Kì đang chú trọng chuyển đổi từ thực trạng chỉ tập trung vào trang bị kiến thức học thuật, lí thuyết, thiếu sự liên kết với thực tiễn PT, sang những chƣơng trình đào tạo thực tập, thực hành xen lẫn với các nội dung tri thức cơ bản, chuyên ngành và các học phần về NVSP. Hiện nay, trong hệ thống giáo dục Hoa Kì có nhiều mô hình hoạt động của các tổ chức giáo dục trong đó thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi này trực tiếp hoặc gián tiếp. Hệ thống Trƣờng phát triển nghiệp vụ - Professional Development School - là một mô hình hoạt động tƣơng đối hiệu quả và đang nhân rộng trong phạm vi Hoa Kì cũng nhƣ một số quốc gia trên thế giới [129].
Xu hƣớng hiện nay trên thế giới trong xây dựng nội dung TTSP là quan tâm nhiều hơn nữa các biện pháp tăng cƣờng thực hành, luyện tập cho SV SP tại trƣờng PT. Các nghiên cứu của quỹ Carnegie, Annenberg và Ford ở Hoa Kì (2001) [131] kết luận: khi xây dựng chƣơng trình TTSP cần tăng cƣờng hơn nữa việc thực hành, thực tập và làm mẫu. Các tác giả Roger Gower, Diane Phillips và Steve Walters [137] đã phân tích các biện cần thiết GV hƣớng dẫn thực tập cần áp dụng giúp cho SV SP quan sát, thực hành và luyện tập tốt hơn tại trƣờng PT. 9 Các tác giả Darling – Hammond, & Haselkom [133] đề xuất: chƣơng trình TTSP phải xác định rõ những năng lực, kĩ năng, kinh nghiệm mà SV cần phải đạt đƣợc để đảm bảo trong tƣơng lai họ sẽ đứng lớp đƣợc một cách dễ dàng; phải tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa lí thuyết và thực hành, phải xác định đƣợc chƣơng trình lí thuyết, chƣơng trình thực hành, thực tập, mối quan hệ giữa chúng và việc hợp tác chặt chẽ, gắn kết với PT, cùng nhau thực hiện trong quá trình đào tạo.
- Xác định thời lượng thực tập sư phạm Các nƣớc khác nhau cũng dành thời gian cho TTSP không giống nhau. Tại Hoa Kì, thời gian yêu cầu đối với TTSP từ 6 tuần ở bang Louisiana cho tới một học kì hoặc nhiều hơn ở bang Minnesota và Wisconsin. Một cuộc khảo sát gần đây cho thấy 21 bang yêu cầu ít nhất 12 tuần dành cho TTSP [58]. SV đại học Iowa (ĐTGV trong 4 năm), TTSP trong thời gian 13 tuần, tƣơng đƣơng với một học kì [31].
Ở Anh [41], [58]: các GV tƣơng lai phải có ít nhất 24 tuần thực tập giảng dạy. Kinh nghiệm trƣờng học 1 và 2 (chính là thực hành, thực tập sƣ phạm) đƣợc thiết kế nhằm đƣa SV thực tập vào môi trƣờng lớp học, giúp họ học hỏi kinh nghiệm từ những GV hƣớng dẫn, để có thể trở thành một GV tốt trong tƣơng lai. Ở Hàn Quốc, SV đƣợc yêu cầu thực tập giảng dạy cả ngày từ 4 đến 6 tuần trƣớc khi kết thúc chƣơng trình ĐTGV. Ở Hồng Kông, SV phải thực tập giảng dạy tối thiểu 8 đến 10 tuần trƣớc khi tốt nghiệp.
Ở Úc, thời gian TTSP của SV tại trƣờng PT trong các chƣơng trình ĐTGV trung học khác nhau thƣờng khác nhau, nhƣng nằm trong khoảng từ 80 ngày đến 100 ngày [31]. Xu hƣớng chung của các nƣớc là tăng cƣờng thời lƣợng dành cho TTSP. Ở Victoria, tài liệu của Ủy ban giáo dục và đào tạo năm 2005, khẳng định: SV cần dành nhiều thời gian hơn nữa ở trƣờng PT để họ có thể thấm nhuần đƣợc các kĩ năng dạy học và quản lí lớp học [134]. - Các biện pháp tổ chức thực hiện nội dung thực tập sư phạm Các nƣớc đều tổ chức thực hiện các nội dung TTSP thông qua đội ngũ GV hƣớng dẫn thực tập.
GV hƣớng dẫn TTSP đều đƣợc chọn từ đội ngũ GV PT và giảng viên SP. Tại Hoa Kì, giảng viên SP ở trƣờng đại học và GV PT hoặc đôi khi hiệu trƣởng trƣờng PT làm nhiệm vụ hƣớng dẫn SV thực tập; SV trƣớc tiên quan sát và 10 trợ giúp GV, sau đó họ sẽ đƣợc ghép đôi với một GV có kinh nghiệm (đƣợc trả tiền) đảm nhiệm vai trò hƣớng dẫn thực tập [129]. Ở Hàn Quốc, SV đƣợc hƣớng dẫn thực tập và đánh giá bởi một GV đứng lớp (PT) có kinh nghiệm, hiệu trƣởng và cố vấn - giảng viên SP của trƣờng đại học. Tƣơng tự, ở Nhật SV đƣợc hƣớng dẫn và đánh giá bởi một GV PT có kinh nghiệm dƣới sự chứng nhận của hiệu trƣởng; ngoài ra có một ban gồm các thành viên từ chƣơng trình ĐTGV cũng thƣờng kiểm tra sự đánh giá này.
Ở Singapore, quá trình thực hành, TTSP đƣợc giám sát bởi những GV PT cộng tác đƣợc lựa chọn đặc biệt và bởi những giảng viên SP. Ở Anh, SV đƣợc quan sát, đánh giá và hƣớng dẫn bởi những GV PT và giảng viên SP có kinh nghiệm [41]. Ở Úc, SV TTSP đƣợc giám sát và đánh giá bởi một GV PT có kinh nghiệm, cùng với việc tham khảo ý kiến của giảng viên SP có dự giờ và quan sát hoạt động thực tập của SV [58]. Nhƣ vậy, tổ chức thực hiện nội dung TTSP (hƣớng dẫn, kiểm tra, đánh giá TTSP, …) thƣờng đƣợc chia sẻ giữa các cá nhân: GV PT có kinh nghiệm, đôi khi là hiệu trƣởng trƣờng PT và cả giảng viên SP của trƣờng đại học.
- Các phương thức tổ chức thực tập sư phạm Phần lớn các quốc gia đang chuyển từ phƣơng thức TTSP trong những khoảng thời gian nhất định ở trƣờng PT sang phƣơng thức tổ chức cho SV thực tập thƣờng xuyên tại trƣờng PT, nhằm nâng cao tay nghề cho SV trƣớc khi tốt nghiệp. SV đại học California - Davis (Hoa Kì) bắt đầu phối hợp công việc với GV PT hƣớng dẫn thực tập trƣớc khi bắt đầu năm học: học cách tổ chức lớp học, chuẩn bị kế hoạch dạy học, giáo án, gặp gỡ học sinh (HS) vào ngày đầu tiên của khóa học. Thời gian thực tập kéo dài trong cả năm, cho đến khi SV thực tập phối hợp với GV PT thực hiện các công việc để kết thúc năm học [31]. Nhƣ vậy, SV đại học California – Davis trở thành “ngƣời nhà”, bên trong văn hóa trƣờng PT, chứ không phải “ngƣời ngoài” đáo qua trƣờng PT một thời gian ngắn.
Rõ ràng họ thu hoạch đƣợc nhiều tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm hơn; nhƣng thời gian giám sát SV thực tập tăng lên, và khi đó chi phí cũng tăng lên. Theo hƣớng SV là “ngƣời nhà” của trƣờng PT, ở Philipines đƣa ra mô hình ĐTGV tại trƣờng phổ thông (SBTP) với các đặc điểm chính là: Nội dung đào tạo 11 đƣợc quyết định bởi GV PT; GV PT tham gia hoạt động đào tạo; Cán bộ đào tạo là GV lão luyện của trƣờng PT hay những cán bộ nguồn lực đƣợc mời đến; Việc đào tạo đƣợc tiến hành trên cơ sở so le nhau giữa dạy và học, đƣợc duy trì cho đến khi SV có đƣợc khả năng tinh thông cần thiết … [31]. Gần đây, cải cách ĐTGV và phát triển GV trở thành một xu hƣớng chung trên phạm vi quốc tế, nhiều nghiên cứu đổi mới quản lí TTSP ở Anh, Hoa Kì, Phần Lan, Úc, Singapore,. trong khoảng 2 - 3 thập kỉ qua đã đƣa mối quan hệ giữa trƣờng SP và trƣờng PT đến những hình thái mới có tính cách mạng theo hƣớng kết nối, tích hợp nhiều vấn đề, lĩnh vực lại với nhau nhƣ vấn đề ĐTGV, phát triển GV, phát triển nghề nghiệp - GV [95].
Ngƣợc với xu hƣớng nêu trên, tại Trung Quốc TTSP nói riêng, đào tạo NVSP nói chung không đƣợc coi trọng. Nhìn chung, chƣơng trình ĐTGV ở Trung Quốc thiên về giáo dục chuyên ngành, chủ yếu nhấn mạnh những môn học có tính học thuật nhƣ các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, chƣa thật sự coi trọng các môn có tính SP nhƣ giáo dục học, tâm lí học, phƣơng pháp dạy học bộ môn. Số giờ học cho cả 3 môn này chỉ chiếm 5% tổng số giờ học của chƣơng trình [31, tr 312]. - Xu thế “chuẩn hóa” trong quản lí công tác đào tạo giáo viên Một xu thế hiện nay trong quản lí ĐTGV là xu thế “chuẩn hóa”.
Việc các cơ quan quản lí giáo dục quy định cụ thể những tiêu chuẩn, năng lực cần thiết hoặc kì vọng SV mới ra trƣờng phải có đƣợc là một xu hƣớng mang tính toàn cầu. Tùy thuộc vào nguyên tắc quản lí các chƣơng trình ĐTGV ở mỗi quốc gia, chuẩn đầu ra dành cho SV SP cũng đƣợc quy định hoặc thống nhất trong toàn quốc, hoặc khác nhau theo từng địa phƣơng hoặc từng cơ sở đào tạo riêng lẻ. Trong đó, Anh và Úc là hai quốc gia có đƣợc sự quản lí thống nhất cấp quốc gia về chƣơng trình ĐTGV. Theo đó, các nƣớc này đều xây dựng một bộ tiêu chuẩn đầu ra dành cho SV sau khi tốt nghiệp hệ cử nhân SP.
Chuẩn này đƣợc gọi là Standard for Initial Teacher Education (Anh) hoặc National Graduate Teacher Standards (Úc).