Tổng quan nghiên cứu

Khai thác tài nguyên khoáng sản giữ vai trò then chốt trong phát triển công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng, đồng thời là nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước. Tỉnh Hòa Bình với diện tích tự nhiên 459.062,52 ha, chiếm 1,39% diện tích cả nước, sở hữu nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng như đá vôi xi măng, đất sét gạch ngói, than mỏ và nước khoáng thiên nhiên. Tuy nhiên, hoạt động khai thác tại 11 đơn vị hành chính cấp huyện trên địa bàn tỉnh đang đặt ra nhiều thách thức lớn trong công tác quản lý tài chính công và bảo vệ môi trường.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi của luận văn xuất phát từ thực trạng số thu ngân sách từ hoạt động khai thác khoáng sản chưa tương xứng với sản lượng khai thác thực tế. Tình trạng gian lận kê khai, trốn thuế và nợ đọng thuế tài nguyên còn diễn biến phức tạp. Trong giai đoạn 2014 - 2016, số thu thuế tài nguyên tại Hòa Bình ghi nhận bước tăng trưởng từ 31.628 triệu đồng năm 2014 lên 39.140 triệu đồng năm 2015 và đạt 55.158 triệu đồng năm 2016. Cùng thời gian này, số lượng doanh nghiệp được cấp phép hoạt động giảm dần, đến năm 2016 còn 177 doanh nghiệp đang hoạt động khai thác vật liệu xây dựng và sản xuất xi măng.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng thu nộp và phân tích các nhân tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian địa bàn tỉnh Hòa Bình, khảo sát chuyên sâu tại 4 địa bàn trọng điểm gồm Thành phố Hòa Bình, huyện Lương Sơn, huyện Kim Bôi và huyện Đà Bắc. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp trong 3 năm từ 2014 đến 2016, kết hợp dữ liệu sơ cấp điều tra năm 2017. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, hỗ trợ ngành thuế kiểm soát thất thu từ 15% đến 25%, tối ưu hóa nguồn thu ngân sách địa phương và bảo đảm phát triển kinh tế bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết tài chính công về thuế gián thu của Gaston Jèze, khẳng định thuế là khoản trích nộp bắt buộc bằng tiền nhằm tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu công mà không mang tính hoàn trả trực tiếp. Bên cạnh đó, luận văn vận dụng quan điểm của Các Mác và Ph. Ăng-ghen về bản chất kinh tế của thuế như một công cụ điều tiết vĩ mô và phân phối lại thu nhập quốc dân.

Mô hình nghiên cứu quản lý thu thuế tài nguyên được thiết lập theo chu trình quản lý hiện đại bao gồm 6 nội dung cơ bản: xác định đối tượng chịu thuế và người nộp thuế; tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế; quản lý đăng ký và kê khai thuế; thu nộp và quyết toán thuế; thanh tra, kiểm tra thuế; và quản lý nợ đọng thuế.

Các khái niệm chính được làm rõ trong nghiên cứu gồm:

  • Khoáng sản: Khoáng vật, khoáng chất có ích tích tụ tự nhiên theo quy định tại Luật Khoáng sản năm 2010.
  • Khai thác khoáng sản: Hoạt động thu hồi khoáng sản bao gồm xây dựng mỏ, khai đào, tuyển quặng và chế biến.
  • Thuế tài nguyên khoáng sản: Loại thuế gián thu cấu thành trong giá bán sản phẩm tài nguyên nhằm điều tiết hành vi khai thác, chiếm tỷ trọng khoảng 10% tổng thu ngân sách nhà nước cả nước.
  • Giá tính thuế tài nguyên: Căn cứ xác định nghĩa vụ thuế theo Thông tư 152/2015/TT-BTC, dựa trên giá bán đơn vị sản phẩm chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng.
  • Thuế suất thuế tài nguyên: Mức huy động được điều chỉnh tăng mạnh theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội năm 2015, ví dụ cát và đất làm gạch tăng từ 10% - 11% lên 15%, đá sỏi tăng từ 7% lên 10%.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ các văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, Báo cáo số 14/BC-CT ngày 15/01/2015, Báo cáo số 18/BC-CT ngày 20/01/2016 và Báo cáo số 16/BC-CT ngày 19/01/2017 của Cục Thuế tỉnh Hòa Bình. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn sâu và điều tra bảng hỏi bán cấu trúc trong năm 2017.

Cỡ mẫu điều tra thực tế bao gồm 40 doanh nghiệp khai thác khoáng sản đại diện cho các nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng, đất sét làm gạch tuynen, than mỏ và nước khoáng, cùng 20 cán bộ, công chức làm việc tại Cục Thuế tỉnh Hòa Bình và các chi cục thuế trực thuộc. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng tại 4 địa bàn có mật độ khai thác cao nhất tỉnh gồm Thành phố Hòa Bình, huyện Lương Sơn, huyện Kim Bôi và huyện Đà Bắc.

Các phương pháp phân tích số liệu bao gồm thống kê mô tả, so sánh chuỗi thời gian giai đoạn 2014 - 2016 và phân tổ thống kê theo nhóm doanh nghiệp và địa bàn. Lý do lựa chọn các phương pháp này nhằm định lượng chính xác tốc độ tăng trưởng số thu, đo lường mức độ tuân thủ nghĩa vụ thuế, và nhận diện rõ nét những sai lệch giữa sản lượng khai thác thực tế so với sản lượng kê khai nộp thuế. Toàn bộ quá trình nghiên cứu và xử lý số liệu hoàn thành trong năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, số thu thuế tài nguyên có sự tăng trưởng vượt bậc nhưng số lượng doanh nghiệp hoạt động lại giảm dần. Tổng số thu thuế tài nguyên tại Hòa Bình tăng 74,4% trong 3 năm, từ mức 31.628 triệu đồng năm 2014 lên 39.140 triệu đồng năm 2015 và chạm mốc 55.158 triệu đồng vào năm 2016. Trái lại, số lượng doanh nghiệp khai thác khoáng sản giảm xuống còn 177 doanh nghiệp năm 2016 do việc siết chặt cấp phép và thanh lọc các dự án kém hiệu quả.

Thứ hai, tồn tại sự chênh lệch lớn giữa sản lượng khai thác thực tế và sản lượng kê khai tính thuế. Kết quả khảo sát 40 doanh nghiệp cho thấy tỷ lệ kê khai sản lượng tại một số điểm mỏ vật liệu xây dựng chỉ đạt từ 50% đến 60% so với công suất khai thác thực tế. Doanh nghiệp thường tận dụng đặc thù địa hình chia cắt phức tạp với 43,8% diện tích là vùng núi cao để khai thác vượt công suất cấp phép mà không khai báo đầy đủ.

Thứ ba, việc điều chỉnh chính sách thuế suất đã tác động trực tiếp làm tăng nguồn thu. Biểu mức thuế suất mới áp dụng từ năm 2016 quy định mức thu quặng sắt tăng từ 12% lên 14%, đá sỏi tăng từ 7% lên 10%, cát và đất làm gạch tăng từ 10% lên 15%. Sự thay đổi này góp phần làm số thu thuế tài nguyên năm 2016 tăng trưởng 40,9% so với năm 2015, đóng vai trò đòn bẩy quan trọng cho nguồn thu ngân sách địa phương.

Thứ tư, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nợ thuế bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Số tiền truy thu và phạt vi phạm hành chính qua các cuộc kiểm tra, thanh tra tại trụ sở người nộp thuế có xu hướng tăng đều. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ đọng thuế tài nguyên giai đoạn 2014 - 2016 vẫn duy trì ở mức từ 5% đến 8% so với tổng số thuế thực thu vào ngân sách, gây áp lực không nhỏ lên công tác thu hồi nợ thuế của ngành.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến các hạn chế trên xuất phát từ cơ chế tự khai tự nộp khi ý thức tuân thủ pháp luật của một bộ phận người nộp thuế chưa cao. Nhiều doanh nghiệp lợi dụng kẽ hở quản lý để bán hàng không xuất hóa đơn hoặc áp dụng giá bán nội bộ thấp hơn giá thị trường nhằm giảm trừ số thuế phải nộp. Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý thuế tài nguyên còn thiếu về số lượng và chưa được trang bị đầy đủ phương tiện kỹ thuật chuyên dụng để đo đạc trữ lượng thực tế tại các mỏ hiểm trở.

Khi so sánh với các địa phương khác, tình trạng này mang tính phổ biến. Tại tỉnh Bắc Giang, số liệu thống kê từng chỉ ra khối lượng tài nguyên khoáng sản kê khai với cơ quan thuế chưa đạt 40% khối lượng khai thác thực tế. Tại tỉnh Lào Cai, hiện tượng chuyển giá nội bộ từng khiến giá bán quặng sắt chênh lệch tới 290.000 đồng/tấn so với giá xuất khẩu thực tế. Ngược lại, bài học từ tỉnh Phú Thọ cho thấy việc siết chặt hóa đơn đầu vào đã giúp số thu thuế tài nguyên tăng từ 7 tỷ đồng năm 2013 lên 24 tỷ đồng năm 2015, trung bình mỗi năm tăng thêm 10 đến 12 tỷ đồng.

Về mặt trực quan hóa dữ liệu, toàn bộ diễn biến số thu giai đoạn 2014 - 2016 có thể được thể hiện qua biểu đồ cột đôi biểu diễn tương quan giữa số thu thực tế và dự toán thu hàng năm. Bảng số liệu phân tổ theo 4 nhóm khoáng sản chính kết hợp đồ thị đường thể hiện tỷ lệ nợ thuế trên số thực thu sẽ giúp các nhà quản lý nhận diện nhanh chóng các điểm nóng thất thu theo từng địa bàn huyện.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành trong quản lý khoáng sản. Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình cần chủ trì ban hành văn bản quy định rõ trách nhiệm phối hợp giữa Cục Thuế tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính, Sở Công Thương và Công an tỉnh trong quý II/2019. Mục tiêu cắt giảm ít nhất 30% tình trạng khai thác trái phép và chấm dứt việc mua bán khoáng sản không có hóa đơn chứng từ hợp pháp trên địa bàn 11 đơn vị hành chính cấp huyện.

Thứ hai, nâng cấp quy trình thanh tra, kiểm tra và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Cục Thuế tỉnh Hòa Bình cần bắt buộc 100% các đơn vị khai thác mỏ lắp đặt trạm cân điện tử và hệ thống camera giám sát truyền dữ liệu trực tuyến về cơ quan thuế trong giai đoạn 2019 - 2020. Giải pháp này giúp kiểm soát chính xác 90% sản lượng khoáng sản nguyên khai xuất bán, hỗ trợ đắc lực cho công tác hậu kiểm và chống chuyển giá.

Thứ ba, nâng cao năng lực chuyên môn và kỷ cương công vụ cho cán bộ thuế. Định kỳ tổ chức tối thiểu 04 khóa đào tạo chuyên sâu mỗi năm về kỹ năng trắc địa, phân tích báo cáo tài chính mỏ và thẩm định giá bán khoáng sản cho hơn 50 lượt công chức thuế. Phấn đấu kéo giảm tỷ lệ nợ đọng thuế tài nguyên xuống dưới 3% trên tổng số thực thu ngân sách nhà nước hàng năm.

Thứ tư, đổi mới phương thức tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế và công khai thông tin. Chi cục thuế các huyện cần tổ chức ít nhất 08 hội nghị đối thoại doanh nghiệp hàng năm, đồng thời công khai danh tính 100% doanh nghiệp chây ỳ, nợ thuế lớn trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Hòa Bình và các phương tiện truyền thông địa phương nhằm nâng tỷ lệ nộp tờ khai đúng hạn lên mức trên 98%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý thuế và cán bộ tài chính công tại các địa phương có địa hình miền núi. Kết quả nghiên cứu cung cấp quy trình 6 bước quản lý thu thuế tài nguyên và công cụ đánh giá rủi ro kê khai, hỗ trợ trực tiếp cho cán bộ Cục Thuế, Chi cục Thuế trong việc lập kế hoạch thanh tra và thu hồi hàng tỷ đồng tiền nợ thuế.

Nhóm 2: Lãnh đạo các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh và huyện gồm Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công Thương. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng quy chế phối hợp kiểm tra mỏ, quản lý cấp phép khai thác cho 177 doanh nghiệp và thẩm định bảng giá tính thuế tài nguyên sát với thị trường.

Nhóm 3: Các doanh nghiệp, hợp tác xã và chủ đầu tư hoạt động trong lĩnh vực khai thác, chế biến khoáng sản. Tài liệu giúp doanh nghiệp cập nhật khung thuế suất từ 10% đến 15%, nắm vững quy định tính thuế theo Thông tư 152/2015/TT-BTC, từ đó hoàn thiện hệ thống sổ sách kế toán và phòng tránh các rủi ro bị truy thu phạt từ 10% đến 20% số tiền vi phạm.

Nhóm 4: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản lý kinh tế, Tài chính công, Kinh tế tài nguyên và môi trường. Luận văn đóng vai trò là công trình tham khảo có giá trị cao với bộ dữ liệu khảo sát 40 doanh nghiệp và 20 cán bộ thuế, mở ra các hướng nghiên cứu mở rộng về kinh tế học tài nguyên.

Câu hỏi thường gặp

Căn cứ tính thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản bao gồm những yếu tố nào? Căn cứ tính thuế tài nguyên theo Luật Thuế tài nguyên hiện hành bao gồm sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế đơn vị tài nguyên và thuế suất thuế tài nguyên. Trong trường hợp cơ quan thuế ấn định mức thu, số thuế phải nộp bằng sản lượng nhân với mức thuế ấn định trên một đơn vị sản phẩm khai thác.

Tại sao số thu thuế tài nguyên tại tỉnh Hòa Bình lại tăng mạnh từ 31.628 triệu đồng năm 2014 lên 55.158 triệu đồng năm 2016? Mức tăng trưởng ấn tượng 74,4% này xuất phát từ hai nguyên nhân chính: việc cải cách thủ tục hành chính, tăng cường thanh tra kiểm tra của Cục Thuế tỉnh Hòa Bình và tác động từ việc điều chỉnh tăng khung thuế suất đối với nhiều nhóm khoáng sản như sắt tăng lên 14%, cát và đất gạch tăng lên 15% vào năm 2016.

Doanh nghiệp chậm nộp hoặc không nộp hồ sơ khai thuế tài nguyên sẽ bị xử lý ra sao? Cơ quan thuế sẽ ra thông báo yêu cầu nộp hồ sơ trong 05 ngày làm việc. Nếu quá hạn 10 ngày, cơ quan thuế sẽ tiến hành ấn định số thuế phải nộp. Nếu quá hạn 90 ngày, hồ sơ sẽ được chuyển sang bộ phận thanh tra để xử lý vi phạm hành chính và phạt tiền nộp chậm theo Luật Quản lý thuế.

Bài học chống chuyển giá tính thuế tài nguyên từ tỉnh Lào Cai có thể áp dụng tại Hòa Bình như thế nào? Hòa Bình có thể áp dụng giải pháp của Lào Cai bằng cách phối hợp chặt chẽ giữa Cục Thuế và Sở Tài chính để ban hành bảng giá tính thuế tài nguyên tối thiểu sát giá thị trường, đồng thời áp dụng Thông tư 66/2010/TT-BTC để kiểm soát giá bán nội bộ đối với các doanh nghiệp khoáng sản có giao dịch liên kết.

Phương pháp điều tra thực tế trong luận văn được tiến hành trên quy mô mẫu như thế nào? Tác giả đã triển khai khảo sát sơ cấp năm 2017 với quy mô mẫu gồm 40 doanh nghiệp khai thác khoáng sản đại diện cho các lĩnh vực vật liệu xây dựng, đất sét, than, đá và 20 cán bộ chuyên môn tại Cục Thuế tỉnh Hòa Bình trên địa bàn 4 huyện, thành phố trọng điểm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa sâu sắc lý luận về quản lý thu thuế tài nguyên, khẳng định thuế tài nguyên là công cụ tài chính cốt lõi điều tiết sản xuất, đảm bảo công bằng xã hội và tạo nguồn thu tái đầu tư hạ tầng.
  • Phân tích toàn diện thực trạng thu thuế tài nguyên tại Hòa Bình giai đoạn 2014 - 2016 với số thu tăng trưởng từ 31.628 triệu đồng lên 55.158 triệu đồng, đồng thời chỉ rõ sự suy giảm số lượng doanh nghiệp còn 177 đơn vị.
  • Chỉ rõ 3 nhóm nhân tố then chốt ảnh hưởng đến nguồn thu gồm chính sách khung giá tính thuế, năng lực giám sát của cán bộ thuế và ý thức tự giác chấp hành pháp luật của 40 doanh nghiệp được khảo sát.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao: thắt chặt quy chế phối hợp liên ngành, số hóa quy trình quản lý mỏ qua camera và trạm cân, bồi dưỡng nghiệp vụ cho 50 lượt cán bộ, và kéo giảm nợ đọng xuống dưới 3%.
  • Đóng góp nguồn tư liệu khoa học thực chứng quý báu cho Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Cục Thuế tỉnh Hòa Bình và các nhà hoạch định chính sách tài chính công trên toàn quốc.

Về lộ trình tiếp theo, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng xây dựng kế hoạch hành động triển khai ứng dụng công nghệ giám sát tại mỏ trong giai đoạn 2019 - 2025. Các cấp quản lý và cộng đồng doanh nghiệp khai thác khoáng sản hãy chung tay hành động, tuân thủ nghiêm túc nghĩa vụ thuế vì một nền kinh tế minh bạch và phát triển bền vững.