Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Bảo hiểm xã hội Đến nay, hầu hết các nước trền thế giới đã thực hiện chính sách BHXH và xem đây là trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội. Mặc dù có quá trình phát triển lâu dài nhưng do tính chất phức tạp và đa dạng nên đến nay vẫn còn có những nhận thức khác nhau về bảo hiểm xã hội.
Điều đó được phản ánh qua các khái niệm BHXH được thể hiện dưới các góc độ khác nhau. Ở một số nước trên thế giới khi đưa ra khái niệm về BHXH xuất phát quan điểm chỉ bao gồm trường hợp bảo hiểm thu nhập cho NLĐ, thường tách BHXH với BHYT và BHTN mặc dù đó cũng là hình thức bảo hiểm mang tính xã hội. Theo Giáo trình Bảo hiểm, Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân, Chủ biên PGS. TS Nguyễn Văn Định: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm dẫn đến mất thu nhập trên cơ sở hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia định học, góp phần đảm bảo an sinh xã hội”.
Khái niệm này đã xác định diện bảo vệ của BHXH bao gồm NLĐ và gia đình NLĐ [16, tr 29]. Khái niệm về BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất trong Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014, đó là: Bảo hiểm xã hội là sự bảo Luan van 8 đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” [22]. Về mặt bản chất, BHXH là hoạt động được tổ chức hợp lý bởi tập hợp những người có cùng chung rủi ro có thể xảy ra hoặc các sự kiện bảo hiểm, các khoản đóng góp về tài chính của học cho phép bồi thường hoặc chi trả theo quy luật thống kê những thiệt hại mà một số người trong tập hợp hoặc người thứ ba phải gánh chịu khi tổn thất hoặc sự kiện bảo hiểm xảy ra. Ở Việt Nam, cơ quan BHXH được giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHTN.
Người lao động khi tham gia BHXH bắt buộc thì đồng thời tham gia cả BHYT và BHTN. Vì thể BHXH được đưa ra với rất nhiều khái niệm như: + Bảo hiểm xã hội là một quỹ tài chính độc lập, tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia và có sự hỗ trợ của Nhà nước. + Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm, thay thế một phần thu nhập khi người lao động có tham gia Bảo hiểm xã hội bị mất hoặc giảm thu nhập. + Bảo hiểm xã hội là một công cụ quản lý của Nhà nước để điều chỉnh mối quan hệ kinh tế giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước; thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội.
Từ những khái niệm nêu trên về Bảo hiểm xã hội, tác giả cho rằng: Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải các rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động hoặc phát sinh những chi phí cần được hỗ trợ như: Ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động, chết. Bảo hiểm xã hội itính inhân iđạo ivà inhân ivăn isâu isắc itrong icác ichế iđộ iBảo hiểm xã hội iquy iđịnh ibản ichất icủa ichính isách, iđó ilà isự ibảo ivệ icủa ixã ihội iđối ivới icác ithành iviên icủa imình ithông iqua imột iloạt icác ibiện ipháp icông icộng, inhằm ichống ilại inhững ikhó ikhăn ivề ikinh itế ivà ixã ihội ido ibị ingừng ihoặc ibị Luan van 9 igiảm ithu inhập, igây ira ibởi iốm iđau, ithai isản, itai inạn ilao iđộng, bệnh nghề nghiệp, ichết. Bảo hiểm xã hội nhằm ibảo iđảm iđời isống ivật ichất ivà itinh ithần icho imọi người lao động, ichống icác itệ inạn ixã ihội, igóp iphần ităng ithu inhập, ithúc iđẩy isản ixuất iphát itriển. Bảo hiểm xã hộii ilà icông icụ iđể iquản ilý ixã ihội, iNhà inước iquy iđịnh iquyền ivà itrách inhiệm igiữa icác ibên itham igia, iđặc ibiệt imối iquan ihệ igiữa người lao động và người sử dụng lao động; iyêu icầu ingười sử dụng lao độngi iphải đảm ibảo iđiều ikiện ilàm iviệc, iđời isống ivật ichất ivà itinh ithần icho ingười lao động, bao gồm inhu icầu icơ ibản ivề itiền ilương, itiền icông, ichăm isóc isức ikhoẻ ikhi ibị iốm iđau, itai inạn, bệnh nghề nghiệp, hoặc chết Bảo hiểm xã hội là sự phân phối lại thu nhập và san sẻ rủi ro mang tính xã hội dựa trện luật số lớn.
Đó là sự san sẻ rủi ro trong cộng đồng, sản sẻ rủi ro giữa NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước, sản sẻ về mặt không gian và thời gian giữa những doanh nghiệp, tổ chức, những vùng, những ngành trong một thời kỳ hoặc nhiều thời kỳ khác nhau, sản sẻ rủi ro, san sẻ tài chính ngay trong nội bộ NLĐ, NSDLĐ. Do vây, bảo hiểm xã hội hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Bảo hiểm xã hội bắt buộc Trong rất nhiều những khái niệm về bảo hiểm xã hội bắt buộc thì khái niệm BHXH bắt buộc được nêu trong Luật BHXH là: Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia. Chức năng của bảo hiểm xã hội bắt buộc nhằm phòng ngừa rủi ro, cho phép tất cả các hoạt động kinh tế xã hội hoặc các đối tượng đã tham gia trong quá trình kinh tế xã hội trước đây hoặc tất cả các công dân.
Được hình thành để đảm bảo các quyền lợi nhằm để duy trì chuẩn mực sống tương đối ổn định ngay cả khi trong trường hợp có sự cố bất ngờ rủi ro xảy ra như ốm đau, bệnh tật… Có thể thấy loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc mà cá nhân và tổ chức (bao gồm NLĐ và NSDLĐ) có trách nhiệm bắt buộc phải tham gia. Căn cứ Luan van 10 đóng và mức đóng được xác định bằng mức tiền lương, tiền công thực tế nhân với tỷ lệ phần trăm theo từng thời kỳ quy định. Người lao động khi tham gia BHXH bắt buộc, được hưởng đầy đủ các chế độ như sau: chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ tử tuất; (5) chế độ nghỉ hưu [23]. Bảo hiểm xã hội bắt buộc là công cụ để thực hiện phòng ngừa rủi ro và an sinh xã hội và hỗ trợ cho nhau, đảm bảo ổn định kinh tế tài chính cho người lao động, khuyến khích họ yên tâm làm việc phát huy hết khả năng, năng lực chuyên môn giúp cho nền kinh tế phát triển, ổn định xã hội, đảm bảo an toàn cho quốc gia về kinh tế chính trị.
Hiện nay đã có 182 nước có luật về bảo hiểm xã hội. Chúng ta có thể thấy rằng BHXH là một trong những hoạt động mà tất cả các quốc gia đều quan tâm không phân biệt thể chế chính trị, chủng tộc, màu da. Bảo hiểm xã hội bắt buộc không chỉ thực hiện an sinh xã hội cho người lao động, người sử dụng lao động mà còn đảm bảo sự ổn định chính trị, kinh tế xã hội, đảm bảo cho tất cả các thành viên trong xã hội gặp cảnh khó khăn, bệnh tật đều được chi trả một khoản thu nhập bằng tiền,,các dịch vụ chăm sóc về y tế có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Qua các nghiên cứu nói trên: Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia, nhằm đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ cở hình thành quỹ bảo hiểm xã hội dưới sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho người dân.
Thu Bảo hiểm xã hội Khái niệm về thu bảo hiểm xã hội là việc thực hiện phân phối lại một phần thu nhập của các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội dưới dạng giá trị, Luan van 11 để giải quyết hài hòa các mối quan hệ về mặt lợi ích kinh tế, góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho người lao động nói chung và người dân nói riêng người dân, từ đó để hướng tới an sinh xã hội bền vững cho toàn xã hội. Chúng ta có thể thấy rằng từ rất nhiều khái niệm về thu BHXH thì tại Nghị định số 98/2004/NĐ-CP ngày 22/8/2008 chỉ ra rằng: Thu bảo hiểm xã hội là việc nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối tượng phải đóng BHXH theo mức phí qui định hoặc cho phép một số đối tượng tự nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình. Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằm mục đích đảm bảo cho các hoạt động bảo hiểm xã hội. Quản lý thu tại Bảo hiểm xã hội bắt buộc Quản lý thu BHXH được hiểu là sự tác động có tổ chức, có tính pháp lý để điều chỉnh các hoạt động thu.
Sự tác động đó được thực hiện bằng hệ thống pháp luật của Nhà nước và bằng các biện pháp hành chính, tổ chức kinh tế của các cơ quan chức năng, nhằm đạt được mục tiêu thu của bảo hiểm xã hội. Quy trình quản lý thu BHXH bao gồm quy trình thu của cơ quan BHXH, xác nhận chính xác số lao động, số tiền phải thu, số tiền phải nộp, số tiền lãi, số tiền nợ, số tiền nộp thừa của người sử dụng lao động, nhân thân, thời gian nộp, mức tiền lương, tiền công nộp bảo hiểm xã hội của người lao động. Đồng thời xác nhận việc thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội của cơ quan BHXH đối với đơn vị sử dụng lao động và người tham gia bảo hiểm xã hội từng thời điểm và theo yêu cầu quản lý. Tình hình chấp hành các nguyên tắc, quy định của Nhà nước về thu bảo hiểm xã hội và một số nội dung khác.