CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CAN SPORTS VIỆT NAM 1. Tóm lược quá trình hình thành và phát triển.1: Giới thiệu Công ty Can Sports Việt Nam (Nguồn: http://www.com/vi/gioi-thieu/vi-tri-cong-ty. Giới thiệu khái quát về công ty Công ty TNHH Can Sports Việt Nam là một doanh nghiệp chuyên sản xuất các loại giày Football, Cleated, NSW nhãn hiệu Nike danh tiếng trên thế giới. Logo công ty: Hình 1.2: Logo công ty Can Sports Việt Nam (Nguồn: http://www.
Tên công ty: CÔNG TY TNHH CAN SPORTS VIỆT NAM 3. Tên giao dịch: CAN SPORTS VIET NAM CO. Tên viết tắt: Can Sports VG 5. Thành lập: Tháng 7 năm 2011 6.
Địa chỉ: Ngã 3 Đất Sét, ấp Thuận Hoà, xã Truông Mít, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh 7. Website: http://www. Điện thoại liên hệ: (0276) 3721 111 9. Email: contact@cansportsvg.com 5 do an 10.
Lĩnh vực hoạt động: Sản xuất giày (Thương hiệu NIKE). Công ty Can Sports chuyên sản xuất các dòng giày thể thao, đi bộ cho thương hiệu Nike. Mặc dù sản xuất cả 3 dòng: Football, Cleated và NSW nhưng hiện tại công ty đang tập trung và đẩy mạnh phát triển chuyên sâu về Football và Cleated.3: Hình một số mẫu giày Football (Nguồn: https://www.com/en/nike-mercurial-vortex.4: Hình một số mẫu giày Cleated (Nguồn: https://store.com/us/en_us/pw/mens-football-cleats- spikes/7puZoonZpcr ) 11. Quy mô công ty: 25 ha 12.
Số lượng công nhân viên: 8. Mã số thuế: 3900963009 (Đăng ký & Quản lý bởi Cục Thuế Tỉnh Tây Ninh) Ngày cấp: 18-04-2011 6 do an 14. Cảnh quan nội bộ: Hình 1.5: Một số hình ảnh nội bộ công ty Can Sports Việt Nam (Nguồn: http://www.com/vi/gioi-thieu/canh-quan-noi-bo. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển 2011 (Khai phá vùng đất mới): Công ty đã được xây dựng tại mảnh đất Tây Ninh.
2012 (Đi vào hoạt động): Công ty công ty Can Sports Việt Nam chính thức thành lập và tiến hành sản xuất những đôi giày đầu tiên. 2013 (Gia tăng sản lượng): Công ty ngày càng tăng năng suất, đẩy mạnh phát triển sản xuất và thu hút nhiều nhân tài. 2014 (Mở rộng quy mô nhà máy): Với sự phát triển nhanh chóng, công ty mở rộng quy mô nhà máy, bổ sung thêm các chuyền sản xuất và xây dựng tòa nhà văn phòng chính nhằm phục vụ công tác hậu cần ngày càng hoàn thiện hơn. 2015 (Mở cửa văn phòng mới): Tòa nhà văn phòng mới chính thức mở cửa.
2016 – Hiện nay (tiếp tục phát triển): Cải tiến không ngừng, phát triển vượt bậc. Quan niệm và giá trị cốt lõi 1. Quan niệm An toàn: Chú trọng sự an toàn trong công việc, cung cấp môi trường làm việc an toàn. Tốc độ: Thỏa mãn yêu cầu của khách hàng về tốc độ giao hàng và tốc độ phục vụ.
Hài lòng: Nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao sự hài lòng của khách hàng và nâng cao toàn diện về môi trường làm việc, đạt được sự hài lòng của công nhân viên. Giá trị cốt lõi Vui vẻ: Giá trị của chúng tôi là nuôi dưỡng một môi trường làm việc hài hòa và hợp tác cho công nhân viên của chúng tôi. Mọi người có thể tích cực phản ánh đến công ty khi họ cảm thấy ý nghĩa của sự liên kết và hòa nhập. Phát triển: Công nhân viên sẽ được nhận phúc lợi từ cả tổ chức cho bản thân họ bằng cách cống hiến thời gian của mình.
Từ việc cung cấp cơ hội để phát triển và hoàn thiện, công nhân viên có thể khám phá ra tài năng và phát triển tối đa tiềm năng của mình. Trách nhiệm: Trách nhiệm có ý nghĩa là toàn thể công nhân viên của tập đoàn Sports Gear phải có tinh thần cũng như tự nhận trách nhiệm cho mọi hành động của mình, không chỉ vì riêng mục tiêu của tập đoàn mà còn là cho gia đình, cho cả cộng đồng. Tầm nhìn và sứ mệnh 1. Tầm nhìn: Trở thành một nhà cung cấp đẳng cấp thế giới, tạo ra lợi nhuận và đồng thời tăng thêm giá trị cho toàn thể công nhân viên, khách hàng và cộng đồng.
Sứ mệnh: Trở thành nhà máy sản xuất là nơi cung cấp môi trường làm việc và sinh hoạt lành mạnh cho toàn thể công nhân viên, cộng đồng theo định hướng của khách hàng. Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lí Hình 1.6: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Công ty Can Sports Việt Nam (Nguồn: Người viết tự tổng hợp) 1. Bộ phận thực tập – NOS Sơ đồ tổ chức NOS IE PJ ĐỘI ĐỘI ĐỘI ĐỘI IE ĐỘI BOM ĐỘI CC ĐỘI MM KAIZEN TRAINING ANALYSIS FOOTBALL FOOTBALL INK KAIZEN A CLEATED CHEMICAL CLEATED KAIZEN B ANALYSIS KAIZEN C PROJECT Hình 1.7: Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ phận NOS – Công ty Can Sports Việt Nam (Nguồn: Người viết tự tổng hợp) Giới thiệu về công việc từng đội trong NOS (Phụ lục 2) 9 do an CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN 2. Một số khái niệm cơ bản: 2.
Thời gian Theo Education (2015) thì: “Takt time (Nhịp) là thời gian mà chi tiết, sản phẩm được tạo ra đáp ứng theo yêu cầu của khách hàng.” Theo Kaizen pro (2017), take time được tính toán theo sản lượng yêu cầu của đầu ra, phân bổ cho các công đoạn kì hạn hoàn thành, giống nhau lượng công việc cho mỗi người. Thời gian thuần 1 ngày làm việc Takt time = Thời gian đáp ứng yêu cầu khách hàng Theo Vietnam Manufacturing (2017), “Nhịp độ là tần suất một sản phẩm được làm ra.” Cùng bài viết Education (2015), “Cycle time (Thời gian chu kỳ) là khoảng thời gian giữa khi bắt đầu làm việc cho đến thời điểm sẵn sàng để chuyển giao. Đó là thời gian thực tế sản xuất” Cycle time = Thời điểm bắt đầu – Thời điểm sẵn sàng chuyển giao Ngoài ra, nhiều tài liệu cũng có một số định nghĩa như sau: Theo Vietnam Manufacturing (2017), thời gian chu kỳ là thời gian cần để quy trình hoàn tất một sản phẩm. Cùng bài viết Education (2015), thời gian chu kỳ cũng là thời gian giữa 2 sản phẩm được hoàn thành liên tiếp.
Theo Kaizen pro (2016), thời gian chu kỳ là thời gian để quay vòng hết một công đoạn trong thực tế. Theo Đỗ Ngọc Hiền (2016), “thời gian tiêu chuẩn là khoảng thời gian cần thiết mà một công nhân, đã được đào tạo, cần để thực hiện một nhiệm vụ được giao, theo một phương pháp quy định, với sự nỗ lực và khéo léo trung bình.” Theo Vanlien (2010) đề cập: - Thời gian bắt đầu 1 cycle time là thời điểm bắt đầu có những cử động cần thiết để thực hiện một công việc. 10 do an - Thời gian kết thúc 1 cycle time là thời điểm kết thúc công việc và sẵn sàng để quay lại thao tác tại điểm bắt đầu. Thao tác Trong bài viết của Vanlien (2010), “Thao tác là sự cử động của chân, tay, cơ thể để làm một công việc nào đó.
Trong sản xuất, thao tác được định nghĩa là tác động của người công nhân vào đối tượng để tạo thành một sản phẩm có giá trị sử dụng được.” Theo bài viết trên Kaizen pro (2017), một số khái niệm và nội dung được đề cập đến rất rõ ràng như sau: Trình tự thao tác là thứ tự các thao tác để người làm việc có thể tác động lên các đối tượng và tạo ra sản phẩm. Một trình tự thao tác tốt sẽ tạo ra một sản phẩm tốt nhất theo một cách hiệu quả nhất. “Thao tác chuẩn là cách sản xuất tối ưu bằng một trình tự thao tác không có lãng phí, trong đó lấy chuyển động của người thao tác làm trung tâm.” Trong điều kiện sản xuất tiêu chuẩn, nhân công, vật tư, thiết bị phải được bố trí một cách hợp lý và có hiệu quả cao nhất để có thể nâng cao các chỉ tiêu về chất lượng sản phẩm, an toàn, giá cả, tính dễ thao tác… Điều kiện khi thiết lập thao tác tiêu chuẩn: • Thao tác được lặp đi lặp lại nhiều lần. • Việc thiết lập thao tác phải được quan sát tại hiện trường và làm tại hiện trường theo nguyên tắc 3 hiện: Hiện trường, Hiện vật, Hiện thực.
3 yếu tố của thao tác tiêu chuẩn: • Thời gian chu kì. • Trình tự thao tác. • Sản phẩm chờ: là số lượng sản phẩm cần thiết tối thiểu nhất cho công đoạn tiếp theo (nhiều hơn, hoặc ít hơn cũng không được) trong thao tác được lặp lại. Theo Hòa Lê (2016), thao tác thừa là bất kỳ các chuyển động tay chân hay việc đi lại không cần thiết của các công nhân không gắn liền với việc gia công sản phẩm.
Trong một bài luận văn khác của Lê Thị Thanh Nhàn (2012) cũng cho rằng thao tác thừa là thao tác được công nhân sử dụng trong quá trình sản xuất nhưng nó không 11 do an mang lại lợi ích cho quá trình sản xuất và khi bỏ chung đi thì hoạt động sản xuất vẫn diễn ra bình thường. Lãng phí và lãng phí do thao tác Trên website Bộ Công Thương (2015) có bài viết cho rằng “Lãng phí là những thứ không tạo ra giá trị.” Trong một tài liệu khác, MeKong Capital (2008) làm rõ hơn rằng “Bất kỳ vật liệu, quy trình hay tính năng nào không tạo thêm giá trị theo quan điểm của khách hàng được xem là thừa và nên loại bỏ. Trong cuốn Toyota way, K. Liker (2004), những nhà quản lí và nhân viên Toyota dùng thuật ngữ Muda của người Nhật khi họ nói về sự lãng phí.
Cùng với Muri và Mura tạo nên khái niệm 3M khi nói về lãng phí. Theo Trung Lê cũng có giải thích như sau: Muri (sự bất hợp lý, không đúng quy luật, không bình thường) là khi người hoặc thiết bị làm việc quá tải, là việc đẩy một cái máy hoặc một người lên quá giới hạn tự nhiên. Việc làm quá tải con người sẽ dẫn đến những vấn đề về an toàn và chất lượng. Làm quá tải thiết bị sẽ gây hỏng hóc và sai lỗi.
Mura (sự không nhất quán, bất ổn định, kẻ xây người phá) là thất thường. Trong hệ thống sản xuất thông thường, đôi khi lượng công việc nhiều quá khả năng điều khiển của con người hay máy móc và những lúc khác lại không đủ việc để làm. Sự thất thường làm kế hoạch sản xuất không đều hoặc làm giảm lượng sản phẩm lên xuống do khó khăn nội tại, giống như thời gian chết của máy móc hoặc sự mất đi nhiều phần hoặc sự sai lỗi. Muda (sự lãng phí, hiệu quả thấp mà chi phí cao) là một thuật ngữ mà Toyota dùng để chỉ bất cứ thứ gì tiêu tốn thời gian mà không tạo thêm giá trị cho khách hàng của bạn.
Muda gồm 7 lãng phí cơ bản, thường được gọi là TIMWOOD. Trong tài liệu của Mekong Capital (2004), nêu rất rõ về các loại lãng phí này như sau: Sản xuất dư thừa (Over-production) – sản xuất nhiều hơn hay quá sớm hơn những gì được yêu cầu một cách không cần thiết.