Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thiết bị dạy học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THPT. Chương 2: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THPT huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Chương 3: Biện pháp quản lý thiết bị dạy học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THPT huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƢỚNG CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Tác phẩm (Global Law Practice) The Hague: Kluwer Law International (1997) của tác giả Harper, J. R (chủ biên) cho rằng thiết bị giáo dục (educational equipment), thiết bị dạy học (teaching equipment) có nguồn gốc và đặc điểm gắn với những dạng ký tự đầu tiên có niên đại vào khoảng 5000 năm về trước [3], cụ thể: vào khoảng năm 140 sau Công Nguyên, ở Hy Lạp cổ đại Crates xứ Mallus đã tạo nên vật hình cầu đầu tiên hỗ trợ dạy học môn địa lý nhằm giải thích về hình dạng của trái đất và mối quan hệ giữa trái đất với các thực thể khác trong vũ trụ. Ở Trung Hoa cổ đại phát minh đồng thời với các dạng ký tự là việc phát minh ra bàn tính được sử dụng để hướng dẫn thực hiện những phép tính con số.
Ở phương tây vào những ngày đầu tiên của nền giáo dục mỗi học sinh đều có một cái bảng đá để viết với kích thước đủ lớn để toàn thể lớp học có thể coi đó như một công cụ học tập, ghi lại thông tin, thông qua những ký hiệu và hình ảnh, nhờ đó mở rộng khả năng ghi nhớ của người học thông qua việc hồi tưởng và thực hành. Theo Michael Jeffries trong cuốn Lịch sử giáo dục từ xa (The History of Distance Education) [31] và Bruner, Jerome S. (1974), tác phẩm “Học thông qua trải nghiệm và học thông qua phương tiện truyền thông” (Learning Through Experience 10 and Learning Through Media) [26], cho biết người ta làm ra phim vào đầu thập niên 1900 và được sử dụng phổ biến trong lớp học vào những năm 1940 và 1950. Năm 1960 máy thu băng cassette đã xuất hiện 7 để hỗ trợ việc học ngoại ngữ.
Những nghiên cứu này cho thấy, cùng với sự phát triển xã hội loài người, TBDH ra đời rất sớm, có vị trí, vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ giảng dạy, sự giao tiếp trao đổi phương tiện truyền đạt như tranh ảnh, đồ thị, âm thanh và cả thông qua chữ viết nữa. Từ thế kỷ 16, tác giả Komensky (1592-1670) là nhà sư phạm lỗi lạc của Tiệp Khắc với hai tác phẩm: Great Didactic: Lý luận dạy học vĩ đại; Orbis Pictus: Dạy học bằng tranh ảnh và đồ dùng dạy học. Những nội dung này về TBDH cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị làm cơ sở cho lý luận dạy học hiện đại ngày nay [26]. Nhà nghiên cứu sư phạm Jean Jacques Rousseau (1712-1778) với tác phẩm “Dạy học là phát triển các giác quan” (1752), Ông cho rằng thực tiễn cuộc sống đem lại kinh nghiệm tốt nhất; hoạt động dạy học phải trên cơ sở hoạt động thực hành; và cần khuyến khích dạy học gắn với thực hành trong nhà trường [27].
Tại Ba Lan, quản lý sử dụng TBDH được đánh giá thông qua các bài tập thực hành của học sinh, và thường cho một số lượng không nhỏ trong hệ thống TBDH được sử dụng trong các nhà trường phổ thông. Tại Rumani, quản lý sử dụng TBDH gắn với việc tự làm TBDH; thực hành tự làm TBDH được xem là môn học bắt buộc tại các trường trường phổ thông “Chuẩn bị kỹ thuật và sản xuất” (Preparation of technical subject- production) [29], [31]. Tại Liên xô (cũ), TBDH tự làm rất được chú trọng tại các nhà trường, số giáo viên tham gia tự làm TBDH rất nhiều. Đã có nhiều tài liệu, nhiều cuốn sách của nhiều tác giả viết, giới thiệu hàng loạt mẫu TBDH tự làm rất phong phú, có 14 giá trị khoa học giáo dục và giá trị kinh tế cao [29], đã được dịch ra tiếng Việt, lưu hành rộng rãi trong ngành giáo dục Việt Nam những năm 70 - 80 của thế kỷ trước, các tài liệu này được dùng để tổ chức các lớp bồi dưỡng “nhân viên thiết bị thí nghiệm” và còn được sử dụng làm tài liệu tự bồi dưỡng đối với giáo viên các môn học, các cấp học ở Việt Nam.
8 Nhìn chung ở các nước có nền giáo dục tiên tiến đều xác định muốn quản lý TBDH trong nhà trường nói chung và trường THPT nói riêng có hiệu quả thì vấn đề phải đào tạo được đội ngũ nhân lực làm công tác thiết bị trường học. Với các công trình thuộc hướng nghiên cứu này thường là những công trình mang tính chất tổng hợp, viết chung với các tài liệu về đổi mới chương trình/đổi mới phương pháp giảng dạy đáp ứng định hướng đổi mới chương trình,… Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến là: Công trình How Teachers Taught: Constancy and Change in American Classrooms, 1890-1980 (Cuban- Larry, Research onTeaching Monograph Series, ISBN-0-582-28481-3, 1984, 306 trang). Nghiên cứu chỉ rõ những thay đổi trong GD nhà trường phổ thông Hoa Kỳ trong thế kỷ 20, với rất nhiều hình ảnh tư liệu quý giá về lớp học, sách giáo khoa, mẫu bài kiểm tra. Năm 2000, Khối kinh tế các nước phát triển OECD (gồm 30 nước) đã thực hiện một nghiên cứu 2 năm về khung lí thuyết của năng lực, từ đó xác định khung năng lực chung cần đạt của học sinh phổ thông bao gồm 3 nhóm năng lực: - Hành động sáng tạo, tự chủ.
- Sử dụng một cách thông minh các công cụ. - Tương tác với nhiều nhóm xã hội một cách hòa đồng. Ở New Zealand, cho đến cuối thế kỉ XX, chương trình phổ thông vẫn thực hiện theo quan điểm nặng về cung cấp kiến thức nhưng sau năm 2000, Bộ giáo dục đã tiến hành cải tổ hệ thống giáo dục quốc dân, trước tiên bằng việc xây dựng chương trình dựa vào năng lực. Các năng lực (NL) được xây dựng trên yêu cầu cụ thể của mục tiêu giáo dục, nhấn mạnh "bản sắc cá nhân, trách nhiệm, tư duy phê phán, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần".
Cùng với mục tiêu giáo dục, khung năng lực của New Zealand còn chịu sự chi phối của cuộc sống thực và những tình huống học tập mang ý nghĩa thực tiễn. Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên thế giới đã đề cập đến TBDH ở 9 những khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, trong các công trình đó, chưa có một công trình nào chỉ ra một cách hệ thống các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý TBDH mang tính toàn diện. Ở Việt Nam TBDH là một thành tố quan trọng và không thể thiếu trong quá trình dạy học, nó là công cụ lao động sư phạm và được hình thành và phát triển cùng với quá trình dạy học.
Những năm 90 của thế kỉ XX, chương trình giáo dục phát triển năng lực được bàn đến nhiều và được xem là chương trình dạy học nhằm đáp ứng với đời sống thực tiễn ngày một phong phú và biến động không ngừng. Nó khắc phục được lối cung cấp tri thức một chiều ít chú ý đến khả năng ứng dụng, làm cho con người chủ động sáng tạo hơn. Đã có rất nhiều ý kiến bàn về dạy học phát triển năng lực cho học sinh. Một số công trình tiêu biểu là: "Tổng quan khung năng lực của học sinh phổ thông một số nước trên thế giới" (Nguyễn Thị Minh Phương, Đào Vân Vi, Tạp chí KHGD số 33 tháng 6/2008, tr.
61-64);" Năng lực chủ chốt trong chương trình giáo dục phổ thông" (Phan Thị Luyến, Tạp chí KHGD, số 79, tháng 4/2012); Giáo dục phổ thông: "Tiếp cận năng lực là thế nào?" (Đỗ Ngọc Thống, (http//: Vietnamweek.net, thứ sau, ngày 21/03/2014);… Tác giả Hồ Ngọc Đại đã viết: Sách giáo khoa và Thiết bị dạy học là “bộ đồ nghề của người giáo viên”. Ông đã xác định sách giáo khoa, thiết bị dạy học là những công cụ để giáo viên sử dụng trong quá trình tổ chức dạy học hiệu quả. Cùng với SGK, TBDH là phương tiện lao động sư phạm không thể thiếu để GV và HS phối hợp tổ chức các hoạt động dạy học và tiến hành một cách hợp lý, có hiệu quả quá trình dạy học ở các môn học, cấp học. Tác giả Vũ Trọng Rỹ (2003), trong bài Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở trường phổ thông (Viện KHGDVN) cho rằng với sự phát triển của công nghệ dạy học dựa vào phương tiện dạy học và nêu lên các đặc trưng 10 chủ yếu của phương tiện dạy học, nhiều cách phân loại và những nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học hiệu quả.
Đặc biệt, TBDH có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc là ở chỗ: nếu sử dụng TBDH có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng nhất không những trong việc hình thành tư duy khoa học cho HS mà còn góp phần phát triển kỹ năng nghề nghiệp của chính người GV [20]. Theo tác giả Ngô Minh Oanh (2011) ĐHSP TP Hồ Chí Minh, quá trình dạy học là một quá trình truyền thông, dưới góc độ mô hình công nghệ dạy học được biểu hiện bằng thông điệp “chuẩn đầu ra và khả năng thực hành”; Vì thế, Quá trình dạy học, giáo dục không thể thực hiện được nếu như không có các phương tiện để chuyển tải thông tin [25]. Tác giả Chu Mạnh Nguyên, quan niệm TBDH hay ĐDDH là một bộ phận của cơ sở vật chất trường học, bao gồm những đối tượng vật chất được thiết kế sư phạm mà người GV sử dụng để điều khiển hoạt động nhận thức của HS; đồng thời chúng là nguồn tri thức, là phương tiện giúp HS lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu dạy học [19]. Tác giả Trần Văn Long với đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản lý cơ sở vật chất các trường tiểu học ở tỉnh Khánh Hòa” đã đánh giá thực trạng quản lý CSVC các trường tiểu học để xác định được các giải pháp có tính khoa học và khả thi trong quản lý CSVC các trường tiểu học, góp phần phát triển dạy-học 2 buổi/ngày, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tiểu học phù hợp với tình hình phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Khánh Hòa [17].