CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Ở nước ngoài Thế kỷ 21 là thế kỷ của khoa học - kỹ thuật - công nghệ chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ và liên tục về tri thức của loài người. Giáo dục đang đứng trước những cơ hội và thách thức đồng thời cũng nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học.
Việc sử dụng TBDH và vai trò của các biện pháp quản lý để nâng cao hiệu quả chất lượng dạy và học trong nhà trường có cơ sở triết học từ lâu. Vấn đề trực quan, cảm tính đã được các nhà khoa học đề cập nhiều trong lí luận về nhận thức. Jan Amot Komensky (1592- 1670) nhà giáo dục Cộng hòa Séc được coi là một trong những ông tổ sư phạm ở Châu Âu và thế giới. Ông chủ trương giảng dạy bằng hoạt động, bằng sự quan sát trực tiếp, bằng sự tiếp xúc với sự vật trong đời sống hàng ngày.
Theo ông: “…Việc dạy học phải bằng sự vật, hiện tượng. Vì sự vật là thân thể, lời nói là cái ảo… lời nói mà không có sự vật là vỏ không có nhân, bao không có kiếm, bóng không có hình, thân không có hồn” [22].Mác “Yếu tố quyết định trình độ hoạt động không phải là tạo ra cái gì, mà là tạo ra cái đó bằng cách nào và bằng phương tiện nào”. Theo nhà giáo dục học, viện sĩ Xukhômlinxki: “Nghệ thuật giáo dục là chỗ không chỉ giáo dục bằng các quan hệ giữa người với người, bằng gương sáng và lời nói của nhà giáo dục, bằng những truyền thống được trân trọng giữ gìn trong tổ chức mà còn giáo dục bằng các đồ vật, những của cải vật chất và tinh thần, giáo dục bằng môi trường và cảnh trí do chính HS xây dựng nên, đó là cách làm phong phú cuộc sống tâm hồn của HS” [36]. Lê Nin khi phân tích bản chất của quá trình nhận thức đã chỉ ra: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực 7 tiễn là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan”.
Trong tác phẩm Phép dạy học vĩ đại J. Không có gì trong trí não nếu như trước đó không có gì trong cảm giác. Vì thế, tất nhiên bắt đầu dạy học không thể từ sự giải thích bằng lời về các sự vật mà phải từ sự quan sát trực tiếp chúng. Lời nói không bao giờ đi trước sự vật”.
Komenski đã đưa ra một quan điểm tiến bộ thể hiện phương pháp dạy học khuyến khích người học tự tiếp thu tri thức bằng chính những giác quan của mình [22]. TBDH đóng vai trò quan trọng đối với QTDH và giáo dục góp phần nâng cao chất lượng toàn diện cho HS. Vì vậy Hội nghị Quốc tế về giáo dục lần thứ 39 họp tại Giơ-ne-vơ năm 1984 cũng như nhiều hội nghị về giáo dục đã từng khẳng định: Ngành Giáo dục cần phải được đổi mới thường xuyên về mục đích, cấu trúc, nội dung, TBDH và phương pháp để tạo cho tất cả HS có những cơ hội học tập. Tuỳ theo hoàn cảnh kinh tế, các nước trên thế giới đều có khuynh hướng hoàn thiện CSVC và TBDH phù hợp với nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
Quản lý TBDH là một trong những hoạt động quản lý của nhà trường, nó góp phần to lớn cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Việc quản lý TBDH cần tuân thủ theo đúng những nguyên tắc, nội dung, quy trình của quá trình quản lý, có như vậy biện pháp quản lý mới đạt hiệu quả cao góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH và chất lượng dạy học của nhà trường. Ở Việt Nam Giáo dục và Đào tạo ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm nhiều hơn, “Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân”. Mặt khác, Đảng và Nhà nước cũng đòi hỏi giáo dục phải đổi mới và phát triển đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của mọi tầng lớp nhân dân về học tập và tiếp thu những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, rèn luyện những phẩm 8 chất và năng lực đáp ứng yêu cầu xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế.
Giáo dục Việt Nam trong nhiều năm qua đã rất coi trọng nguyên tắc trực quan trong QTDH - giáo dục trong nhà trường. Vì vậy, ngoài chủ trương ưu tiên tăng cường trang bị TBDH của Đảng và Nhà nước cho tất cả các cơ sở giáo dục; nhiều nhà khoa học cũng đã quan tâm nghiên cứu về vấn đề này và đã góp phần xây dựng nên hệ thống lý luận về vai trò TBDH, là một trong những thành tố cơ bản trong QTDH - giáo dục hiện nay. Đổi mới PPDH là một trong những trọng tâm của đổi mới chương trình và SGK giáo dục phổ thông, thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của HS với sự tổ chức và hướng dẫn thích hợp của GV nhằm phát huy tư duy độc lập, sáng tạo góp phần hình thành phương pháp, nhu cầu, khả năng tự học, bồi dưỡng hứng thú học tập, tạo niềm tin và niềm vui trong học tập,. muốn thực hiện được điều đó thì không thể thiếu TBDH.
TBDH là điều kiện quan trọng trong QTDH nó vừa là nội dung vừa là phương tiện chuyển tải thông tin, giúp GV tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của HS, giúp HS hứng thú học tập, rèn luyện tác phong và kỷ luật lao động, kỹ năng thực hành, hình thành phương pháp học tập chủ động tích cực, sáng tạo; TBDH trở thành công cụ nhận thức, là một bộ phận hữu cơ của cả phương pháp và nội dung dạy học. Việc đổi mới quản lý TBDH trong nhà trường là điều tất yếu. Tuy nhiên, trên thực tế việc trang bị, quản lý, khai thác sử dụng và bảo quản TBDH của các trường phổ thông nói chung và các trường THPT nói riêng còn chưa được quan tâm đúng mức. Đối với các trường THPT tỉnh Đắk Nông việc quản lý TBDH ở các trường THPT đã và đang được thực hiện một cách thường xuyên nhưng vẫn còn nhiều bất cập, không đồng bộ, chưa được quan tâm đúng mức và chưa mang lại hiệu quả cao cho việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.
9 Chính vì vậy đã có nhiều đề tài nghiên cứu về việc sử dụng TBDH, quản lý TBDH nhằm tìm ra những biện pháp quản lý hiệu quả TBDH như : Lê Thanh Giang với đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên trường trung học phổ thông tỉnh Cà Mau”. Qua đề tài tác giả đã khảo sát và phân tích thực trạng quản lý và sử dụng TBDH ở một số trường THPT tỉnh Cà Mau, từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý việc sử dụng TBDH của GV nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở các trường THPT tỉnh Cà Mau. [10] Đặng Phúc Tịnh với đề tài “Thực trạng và một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ”. Tác giả đã khảo sát và phân tích thực trạng quản lý TBDH ở các trường THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
Từ đó, tác giả đề xuất một số biện pháp quản lý TBDH nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của các trường THCS tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. [31] Trần Đức Hùng với đề tài: “Biện pháp quản lý TBDH ở các trường THPT tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay”. Tác giả đã nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng việc quản lý TBDH ở các trường THPT tỉnh Quảng Ngãi. Đồng thời tác giả đã đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở các trường THPT tỉnh Quảng Ngãi.
[18] Tuy nhiên, công tác quản lý TBDH vẫn gặp nhiều khó khăn và chưa đạt được hiệu quả cao. Đây là lí do để chúng tôi lựa chọn nghiên cứu vấn đề này với đề tài “Quản lý TBDH ở các trường THPT huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông”. Các khái niệm chính của đề tài 1. Định nghĩa Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động, mục đích của hoạt động quản lý nhằm tăng năng suất lao động, cải tạo cuộc sống.
Để đạt được mục tiêu trên cơ sở kết hợp các yếu tố con người, phương tiện. thì cần 10 có sự tổ chức và điều hành chung, đó chính là quá trình quản lý. Xã hội càng phát triển, vai trò quản lý ngày càng quan trọng, nội dung quản lý ngày càng phức tạp. Theo Đặng Quốc Bảo, quản lý là một quá trình gồm hai quá trình bộ phận tích hợp vào nhau: “quản” và “lý”.
Quản chính là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái ổn định. Lý bao gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ thống vào thế phát triển. Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “quản” thì tổ chức dễ trì trệ, suy thoái. Ngược lại, nếu chỉ quan tâm đến việc “lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững.
Như vậy, trong “quản” phải có “lý”, trong “lý” phải có “quản” để hệ thống ổn định đi tới sự phát triển và phát triển trong thế ổn định [2]. Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì đưa ra định nghĩa khái niệm “Hoạt động quản lý”. Đó là “Tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” và “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [5, tr. Theo Nigel Bennett: “Quản lý là một hoạt động duy lý trong đó liên quan với việc tìm ra những cách hiệu quả, hiệu suất nhất như có thể để sử dụng tài nguyên đạt được mục đích tổ chức” [13].
Theo Từ điển Giáo dục học: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.