Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Hiện nay, các trường phổ thông đang thực hiện Chương trình GDPT 2018. Ở tiểu học đã thực hiện đến lớp 3, THCS thực hiện đến lớp 7, THPT thực hiện đến lớp 11. Để thực hiện Chương trình giáo dục 2018 thì không thể thiếu các trang thiết bị dạy học, vì nó là một thành tố quan trọng phục vụ cho quá trình đổi mới phương pháp dạy học nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Vấn đề sử dụng TBDH như thế nào cho hiệu quả và quản lí việc sử dụng thiết bị dạy học như thế nào đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu. Nền giáo dục trên thế giới dù thay đổi và phát triển đến đâu thì TBDH vẫn luôn giữ một vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong dạy học. Các nhà khoa học giáo dục học đã chỉ ra việc nhận thức của trẻ bắt đầu từ việc trực quan thế giới. Trong dạy học, để giúp học sinh nhận thức được các khái niệm trừu tượng thì phải có các phương tiện dạy học trực quan.
Không có TBDH, dạy chay sẽ làm giảm hứng thú học tập của học sinh, qua đó làm giảm chất lượng dạy học. Nhất là theo quan điểm dạy học hiện nay, dạy học hướng tới phát triển phẩm chất và năng lực cho người học thì vai trò của TBDH lại càng quan trọng. Do đó, để thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018, Bộ đã có quy định về các TBDH tối thiểu. Thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng “chuyển mạnh từ quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực phẩm chất người học, học đi đôi với hành; lý luận gắn liền với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [33 tr.
Công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo ở Việt Nam đã thu được những thành quả quan trọng. Việc thực hiện Chương trình GDPT 2018 gắn chặt với yêu cầu đổi mới giáo dục và TBDH là một phần không thể thiếu. 6 Ở Việt Nam, đã có nhiều nhà khoa học giáo dục nghiên cứu về TBDH trong dạy học. Nhiên cứu của tác giả Tô Xuân Giáp với công trình: "Phương tiện dạy học - Hướng dẫn chế tạo và sử dụng " [17].
Công trình này, đã đưa ra các cơ sở phân loại và cách phân loại phương tiện dạy học, cách thức lựa chọn, chế tạo, thiết kế, sử dụng phương tiện dạy học và các điều kiện đảm bảo sử dụng phương tiện dạy học có hiệu quả. Công trình đã kết luận: "Phương tiện dạy học được sử dụng đúng, có tác dụng làm tăng hiệu quả sư phạm của nội dung và các phương pháp dạy học lên rất nhiều" [17, tr. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa TBDH và việc đổi mới phương pháp dạy học, tác giả Hoàng Đức Nhuận đã có công trình nghiên cứu “Cải tiến TBDH nhằm đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông” [32]. Trong nghiên cứu: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, sử dụng cơ sở vật chất và thiết bị dạy-học ở trường phổ thông Việt Nam" [14], tác giả Trần Quốc Đắc đã đưa ra các quan điểm của việc sử dụng TBDH trong dạy học, xác định vai trò, vị trí và ý nghĩa của CSVC và TBDH ở trường phổ thông.
Tác giả khẳng định: "Thiết bị dạy học phải được sử dụng hiệu quả là mục tiêu cơ bản nhất và là mục tiêu duy nhất của toàn bộ công tác thiết bị trường học. Sử dụng có hiệu quả TBDH là một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người thầy giáo. Điều này, đòi hỏi người thầy giáo phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao với yêu cầu sử dụng TBDH. Người giáo viên không những cần hiểu biết về TBDH, về kỹ thuật sử dụng chúng mà còn hiểu sâu về phương pháp dạy học với yêu cầu sử dụng TBDH: sử dụng TBDH với mục đích gì, lúc nào, liều lượng bao nhiêu, đặc điểm tâm lý HS ra sao, HS cần tham gia hoạt động như thế nào khi dạy học có sử dụng TBDH, sử dụng TBDH như thế nào để khơi dậy lòng say mê học tập, phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo và bồi dương nhân cách cho HS " [14, tr.
Trong bài viết “Nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH trường THCS” [41] của tác giả Trần Đức Vượng, qua khảo sát việc sử dụng TBDH trong trường 7 học ở nhiều địa phương, tác giả đã chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến sử dụng TBDH không hiệu quả như: “Trình độ, kĩ năng sử dụng TBDH của giáo viên còn thấp, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở một số địa phương chưa thật sự quan tâm và chú trọng chỉ đạo việc sử dụng có hiệu quả TBDH”. Trong thời gian gần đây, đã có một số tác giả đã nghiên cứu sâu thực tế về quản lý sử dụng TBDH ở trường học như đề tài: “Quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT huyện Đạ Huoai tỉnh Lâm Đồng đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH” [16] của tác giả Lê Thị Giang; Tác giả Sầm Minh Hoàng với đề tài “Biện pháp quản lý sử dụng thiết bị dạy học của Hiệu trưởng các trường THCS Huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang” [22]… Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về TBDH, quản lý sử dụng TBDH trong nhà trường được tiến hành. Đa số các công trình nghiên cứu đã nêu bật được các vấn đề như: đánh giá thực trạng quản lý mua sắm, trang bị, tiếp nhận TBDH, thực trạng bảo quản, duy tu và sử dụng TBDH, thực trạng quản lý sử dụng TBDH. Tuy nhiên, các vấn đề đã được nghiên cứu trên ở các cơ sở giáo dục của các địa phương, các vùng miền là không giống nhau.
Nhìn chung các tác giả chỉ mới dừng lại ở nghiên cứu TBDH nói chung, chưa tập trung sâu nghiên cứu sâu quản lý sử dụng TBDH đáp ứng thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Thực tế việc quản lý sử dụng TBDH ở huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương còn gặp nhiều bất cập, chưa khoa học, thiếu đồng bộ, chưa khai thác hết hiệu quả TBDH. Đặc biệt hơn nữa ở địa phương huyện Cẩm Giàng chưa có công trình, tài liệu nào đề cập vấn đề: “Quản lý thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương đáp ứng Chương trình giáo dục phổ thông 2018” vì thế tác giả lựa chọn vấn đề này để nghiên cứu. Các khái niệm cơ bản 1.
Quản lý Khi con người cùng làm việc với nhau thì quản lý là hoạt động tất yếu nảy sinh từ yêu cầu phối hợp giữa mọi người. Đặc biệt, trong một xã hội không 8 thể không có sự quản lí. Khái niệm quản lý được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau, rất đa dạng, phong phú nhưng cũng có nhiều dấu hiệu đặc trưng. Đồng thời nó cũng biến đổi theo từng giai đoạn của lịch sử, và từng hoạt động.
Không có khái niệm QL nào chung cho mọi lĩnh vực, mọi giai đoạn. Khổng Tử từ hơn hai nghìn năm trước đã đề cao vai trò của người quản lý rằng: “Người quản lý mà chính trực thì không cần phải tốn nhiều công sức mà vẫn khiến được người ta làm theo”. Ferdrick Winslow Taylor cho rằng: “Quản lý là nắm chắc được điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [38].Mác, người thầy của giai cấp vô sản thế giới cũng đã khẳng định: “Bất cứ lao động nào có tính xã hội, cộng đồng được thực hiện ở quy mô nhất định đều cần ở một chừng mực nhất định. Sự quản lý giống như người chơi vĩ cầm một mình thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [10, tr.
Theo Harold Koontz, “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm…Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [19, tr. Trong sách từ điển tiếng Việt giải thích: “Quản lý là tổ chức, điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [38, tr. Tác giả Trần Kiểm trong cuốn: “Khoa học quản lý nhà trường” cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu …” [26, tr. Còn theo tác giả Bùi Minh Hiền:“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu đề ra” [20, tr.
9 Từ các khái niệm quản lí nói trên, chúng ta thấy các tác giả tuy có cách tiếp cận khác nhau, nhưng nhìn chung đều thống nhất ở một số nội dung sau: + Quản lý là những hoạt động tạo ra mối liên hệ, sự phối hợp giữa các cá nhân trong một tập thể lao động nhằm đảm bảo cho công việc trôi chảy, đạt hiệu quả tốt nhất có thể. + Quản lý là sự tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua các quy định, quy chế nhằm ổn định và đảm bảo cho sự phát triển của một tổ chức nào đó. + Chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) đề ra mục tiêu và điều khiển, dẫn dắt các đối tượng quản lý đạt tới mục tiêu đề ra. + Khách thể quản lý (đối tượng quản lý): đó là con người (được tổ chức thành một tập thể, một cộng đồng, một xã hội) hoặc hiện thực khách quan nói chung (các trang thiết bị kỹ thuật, nhà cửa,…).
+ Cơ chế quản lý: Những nội quy, quy chế, quy định phương thức mà thông qua đó hoạt động quản lý được tiến hành và quan hệ tương tác qua lại giữa chủ thể và khách thể quản lý được vận hành, điều chỉnh cho phù hợp. + Mục tiêu chung: đều hướng đến chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Như vậy: Quản lý là cách thức tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý thông qua các cơ chế quản lý để đạt tới mục tiêu chung của tổ chức mong muốn.