Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý tập thể sƣ phạm ở trƣờng mầm non. Chương 2: Thực trạng quản lý tập thể sƣ phạm tại các trƣờng mầm non huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng. Chương 3: Biện pháp quản lý tập thể sƣ phạm tại các trƣờng mầm non huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TẬP THỂ SƢ PHẠM Ở TRƢỜNG MẦM NON 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Trên thế giới Khi nói đối tƣợng của sự lãnh đạo, quản lý là con ngƣời thì đó không chỉ là những cá nhân, mà chính là những cá nhân sống và hoạt động chung, đó là những nhóm xã hội, những tập thể lao động. Theo quan điểm truyền thống thì thƣờng tập trung vào ngƣời bị quản lý, vai trò ngƣời quản lý và toàn bộ tổ chức, ít tính đến sự chủ động của nhân viên, chƣa chú ý đến nhu cầu xã hội, Frederich Winslow Taylor (1856-1915) và các cộng sự của ông tin rằng động cơ thúc đẩy ngƣời công nhân làm việc tích cực chỉ là do họ muốn kiếm đƣợc nhiều tiền nhằm thoả mãn những nhu cầu về vật chất, kinh tế điều kiện (môi trƣờng) làm việc và sự hài lòng về công việc của nhân viên. Nhà sử học Daniel A.Wren đã nhận xét rằng: "Quản lý cũng xƣa cũ nhƣ chính con ngƣời vậy", nhƣng ông cũng ghi nhận rằng cũng chỉ mới gần đây, ngƣời ta mới chú ý đến "chất khoa học" của quá trình quản lý và dần dần hình thành nên các "lý thuyết" quản lý (Lê Thị Hoàng Diễm, 2011).
Bên cạnh đó, một trào lƣu - một học thuyết mới trong quản lý ra đời vào những năm 20 -30 của thế kỷ XX đó là quan điểm hành vi (hay quan điểm quan hệ con ngƣời). Xây dựng nên học thuyết này là những cống hiến của Hugo Munsterberge (1863-1916), Mary Parker Follett (1868-1933), Chester Irving Barnard (1886-1961) và đặc biệt là những công trình nghiên cứu của Elton Mayo (1880- 1949). Quan điểm hành vi khắc phục đƣợc một số nhƣợc điểm của các quan điểm truyền thống khi chú ý đến tầm quan trọng của những động thái nhóm và phong cách lãnh đạo của ngƣời quản lý. Theo quan điểm này sự tăng trƣởng hiệu suất lao động chịu ảnh hƣởng chủ yếu bởi các nhân tố tâm lý, nhân viên sẽ ủng hộ, đáp ứng yêu cầu của nhà quản lý nếu nhà quản lý biết lắng nghe, giúp nhân viên nhận thấy ý nghĩ, giá trị của cá nhân họ và phối hợp công việc với nhân viên một cách dân chủ, yếu tố phi chính quy nhiều hơn là bởi những nhân tố chuẩn mực chính quy.
8 Để xây dựng tập thể sƣ phạm, các quốc gia trên thế giới có nhiều cách thức khác nhau từ việc tuyển chọn đầu vào đến việc bồi dƣỡng, tạo môi trƣờng làm việc. Ở Phi-lip-pin, quốc gia cùng khu vực và có những chỉ tiêu cơ bản tƣơng tự nhƣ nƣớc ta, trong kế hoạch tổng thể đào tạo bồi dƣỡng giáo viên 10 năm (1998-2008) đã đề ra những giải pháp đáng lƣu ý. Chẳng hạn, trong đào tạo GV thì thu hút những học sinh trung học có chất lƣợng khá giỏi vào ngành sƣ phạm. Trong sử dụng và bồi dƣỡng thì xem lại thang lƣơng GV với những ngƣời cùng trình độ để cải thiện đời sống và tạo thuận lợi cho họ trong công tác đồng thời khai thác chỗ làm cho GV mới ra trƣờng, giảm bớt tình trạng GV mới không có chỗ làm việc.
Mặt khác, thể chế hóa và củng cố việc bồi dƣỡng tại chức, nâng cao nhận thức của dân chúng về vai trò, tầm quan trọng của nghề dạy học và vị thế của GV trong xã hội Ở Nhật Bản, quốc gia phát triển vào bậc nhất của Châu Á cũng đặc biệt chú trọng tới công tác phát triển đội ngũ GV. Luật Giáo dục Nhật Bản quy định: “Địa vị xã hội của giáo viên phải đƣợc tôn trọng, sự đối xử đúng đắn và phù hợp với giáo viên phải đƣợc đảm bảo”. Để trở thành GV phổ thông phải có chứng chỉ sƣ phạm. Nhật Bản có quy chế bồi dƣỡng bắt buộc hàng năm đối với GV phổ thông mới vào nghề.
GV đƣơng nhiệm đƣợc bồi dƣỡng bằng nhiều hình thức, ở nhiều cấp với phƣơng thức đổi mới, đa dạng. Chính sách đãi ngộ GV chủ yếu thể hiện qua lƣơng, phụ cấp, trợ cấp. Mức tăng lƣơng dựa vào thành tích và thâm niên công tác, trung bình 1 năm hoặc 2 năm một lần. GV trƣờng công ở Nhật Bản đƣợc hƣởng nhiều loại trợ cấp, quan trọng nhất là tiền thƣởng 3 lần trong năm và cao gấp 5,2 lần lƣơng tháng.
Đối với Cộng hòa Pháp, một quốc gia có nền giáo dục phát triển cao thuộc cộng đồng Châu Âu, có quy định về tuyển dụng GV phải thông qua thi tuyển (vào ngạch công chức GV). Các cơ sở giáo dục công lập trực thuộc Bộ có thể tuyển dụng GV cộng tác (GV hợp đồng) để giảng dạy các môn về kỹ thuật và dạy nghề. GV của cơ sở giáo dục tƣ thục cũng đƣợc hƣởng chính sách nâng ngạch bậc nhƣ GV các cơ sở giáo dục công lập. Nhà nƣớc cấp kinh phí cho hoạt động đào tạo ban đầu và nâng cao trình độ của GV các cơ sở giáo dục tƣ thục cùng với mức và giới hạn áp dụng đối với GV các trƣờng công lập.
Về chế độ ƣu đãi GV, Luật giáo dục Cộng hòa Pháp có quy định: GV chính thức hoặc thực tập sinh có quyền có nhà ở hoặc có phụ cấp nhà ở, lƣơng chính 9 của GV trung học và tƣơng đƣơng, ngoài lƣơng theo văn bằng còn có lƣơng theo cấp bậc và trợ cấp bù giá (Đỗ Thị Thu Hiền, 2011). Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, những ngƣời trực tiếp tham gia các hoạt động xây dựng TTSP bậc học MN ở cấp Quốc gia đƣợc nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau. Nhƣng quy hình chung điều hƣớng đến một mục tiêu chung nâng cao chất lƣợng, hiệu quả trong công tác GD&ĐT ở trƣờng MN. Đây sẽ là những gợi mở cho tác giả tiếp cận vấn đề nghiên cứu vấn đề Quản lý tập thể sƣ phạm tại các trƣờng mầm non huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng hiện nay.
Ở Việt Nam Nhìn chung rất nhiều tác giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đã đề cập đến các vấn đề nhóm - tập thể, xây dựng tập thể và xác định đây là một trong những vấn đề quan trọng trong công tác quản lý. Các đề tài về tập thể sƣ phạm thƣờng xoay quanh vấn đề tập thể sƣ phạm đoàn kết nhiều hơn là tập thể. Trƣớc yêu cầu của xã hội ngày càng cao đối với GD&ĐT, Đảng và Nhà nƣớc đã tập trung đƣa ra những quyết sách lãnh đạo đối với các trƣờng MN trong việc nâng cao chất lƣợng GD&ĐT trẻ, trong đó đề cập đến việc xây dựng TTSP, cho thấy xây dựng TTSP không chỉ là trách nhiệm của những của đội ngũ CBQL, GV mà còn là trách nhiệm, tình yêu thƣơng, hạnh phúc của cộng đồng và xã hội. Chẳng hạn nhƣ: Quyết định số 711/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ về Chiến lƣợc phát triển GD 2011-2020 và đề ra mục tiêu cụ thể đối với GDMN.
(Thủ tƣớng chính phủ, 2012); Nghị quyết số 29-NQ/TW tiếp tục đề ra mục tiêu cụ thể nhằm thực hiện thắng lợi chiến lƣợc đã đề ra đối với GDMN (Ban chấp hành Trung Ƣơng Đảng, 2013);… Bên cạnh đó, Bộ GD&ĐT cũng đã ban hành rất nhiều văn bản chỉ đạo quy định về việc tổ chức các hoạt động quản lý GD MN nhƣ: Quyết định số 1215/QĐ-BGDĐT về chƣơng trình hành động của ngành GD thực hiện chiến lƣợc phát triển GD giai đoạn 2011-2020. (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2013); Quyết định số 2653/QĐ-BGDĐT về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT. (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2014); Văn bản hợp nhất số 04/VBHN-BGDĐT hợp nhất Điều lệ trƣờng MN. (Bộ Giáo dục và Đào tạo , 2015); Thông tƣ Liên tịch 13/2016/TTLT – BYT – BGDĐT quy định về công tác y tế trƣờng học (Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016); Thông tƣ 28/2016/TT-BGDĐT sửa đổi 10 bổ sung một số nội dung của Chƣơng trình Giáo dục mầm non ban hành kèm theo Thông tƣ 17/2009/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
(Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016)… Nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng quản lý, phong phú thêm các biện pháp quản lý TTSP ở trƣờng MN, những năm gần đây có một số tác giả đã nghiên cứu và đề xuất các biện pháp có thể áp dụng hiệu quả ở một số địa phƣơng. Có những đề tài về xây dựng TTSP đáng chú ý: Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Ái Liên với đề tài “Xây dựng môi trường sư phạm để phát triển đội ngũ giảng viên chuyên ngành ở các trường đại học Sân khấu - Điện ảnh”. Luận văn đã đề cập và phân tích rõ tầm quan trọng, tình hình thực tiễn, những khó khăn và hạn chế cũng nhƣ tính đặc thù của việc phát triển đội ngũ giảng viên chuyên ngành tại các trƣờng đại học Sân khấu - Điện ảnh. Qua đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu trong việc xây dựng môi trƣờng sƣ phạm tích cực để phát triển đội ngũ giảng viên chuyên ngành ở các cơ sở đào tạo về sân khấu – điện ảnh.
Tác giả Dƣơng Đức Tân với đề tài “Những biện pháp quản lý của hiệu trƣởng đối với việc xây dựng tập thể sƣ phạm ở các trƣờng trung học phổ thông tỉnh Quảng Ngãi” đã bƣớc đầu xây dựng đƣợc một số biện pháp có tính khả thi cho các trƣờng phổ thông của tỉnh Quảng Ngãi. Tác giả Đỗ Thị Thu Hiền với luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục về “Biện pháp xây dựng tập thể sƣ phạm tại trƣờng Đại học thể dục thể thao Đà Nẵng” đã làm rõ, phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng tập thể sƣ phạm hiện nay ở trƣờng Đại học Thể dục Thể thao Đà Nẵng, qua đó đề xuất các biện pháp quản lý công tác xây dựng tập thể sƣ phạm nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo của trƣờng Đại học Thể dục Thể thao Đà Nẵng (Đỗ Thị Thu Hiền, 2011). Tuy nhiên, về vấn xây dựng tập thể sƣ phạm thực tế hiện nay ở Việt Nam có ít đề tài nghiên cứu, các đề tài đa số cũng chƣa khai thác hết nội dung trong công tác xây dựng tập thể sƣ phạm tích cực.