Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đê điều và quản lý hệ thống dé điều. “Chương 2: Thực trạng công tác quản lý dé điều trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Chương 3: Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý hệ thống dé điều trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 HUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIEN VE DE DIEU VA QUAN LY HE THONG DE DIEU 1. Một số khái niệm 1.
Khái niệm về đê điều ‘Dé điều 1a công trình ngăn nước lũ của sông hoặc ngăn nước biển, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phân loại, phân cấp theo quy định của pháp luật. Phân loại hệ thống đê điều 1. Phân loại theo nhiệm vụ của dé điều Hệ thống đê điều hiện nay được chia làm nhiều loại tương ứng với từng. vụ ở từng khu vực khác nhau như [5] a, Dé điều là hệ thống công trình bao gồm đê, kẻ bảo vệ đê, cống qua đê và công trình phụ trợ: b.
Để sông là đê ngăn nước lũ của sông ; e. Để biển là đê ngăn nước biển: d. Đề cửa sông là dé chuyể e, Để bao là dé bảo vệ cho một khu vực. £- Để bối là dé bảo vệ cho một khu vực nằm ở phía sông của dé sông; g.
Dé chuyên dùng là dé bảo vệ cho một loại đối tượng riêng biệt. Phân loại đê điều theo cắp đê [5] ‘Theo cắp, dé được phân thành 6 cấp là: cắp đặc biệt; cấp I; cắp II; cap ILL; cấp IV; và cấp V theo mức độ quan trọng từ cao đến tỉ p. 'Việc phân cấp dé do Chính phủ quy định dựa theo các tiêu chí sau: (1) Số dân được dé bảo vệ: (2) Tam quan trọng về quốc phòng, an ninh, kinh tế - xã hội; (3) Đặc điểm lũ, bão của từng vùng; (4) Diện tích và phạm vi địa giới hành chính: (5) Độ ngập sâu trung bình của các khu dân cư so với mực nước lũ thiết kế; và (6) Lưu lượng lũ thiết kế. Khái niệm về quản lý đê điều 2 Quan lý đê điều là việc tổ chức bộ máy quản lý dé điều ở các cấp để nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả các công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng dé và các công trình thuộc hệ thống đề điều, vận hành hoạt động, duy tu sửa chữa, cải tạo nâng cấp, kiên cố hóa, xử lý các sự cố, quân lý bảo vệ thường xuyên, hộ dé trong những trưởng hợp cần thiết nhằm đảm bảo cho tuyến đê hoạt động an toàn, đáp ững được các mục tiêu nhiệm vụ được đặt ra về bảo vệ đời sống dân sinh, phát triển kinh tế và giữ gin môi trường [5].
Vai trò của hệ thống đê điều Hệ thống đê ở nước ta đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tài sản, mùa màng và tính mạng của người dân. Việt Nam có lượng mưa và đồng chảy khá phong phú. Lượng mưa bình quân hằng năm của cả nước đạt gan 2000 mm. Việt Nam có mật độ sông ngòi cao, có 2360 sông với chiều dai tir 10 km trở lên và hau hết sông ngòi đều chảy ra biển Đông.
Tổng lượng dòng chảy bình quân vào khoảng 830 tỷ m3/năm, trong đó có 62% là từ lãnh thổ bên ngoài. Phân bố mua và dong chảy trong năm không đều, 75% lượng mưa. và dong chảy tập trùng vào 3 - 4 thing mùa mưa. Mùa mưa lại trùng với mùa bão nên Việt Nam luôn phải đổi mặt với nhiều thiên tai về nước, đặc biệt là là lụt Việt Nam với đặc thủ là nước có đường bờ biển dai hơn 2000 km vi thế tầm quan trọng của các hệ thống đê sông và đê biên là cực kì quan trong.
Hàng năm Việt Nam đón nhận hơn 10 cơn bão từ Biển Đông, cùng với các hiện tượng thời thiết khác về mùa mưa bão khiến mực nước các sông thường. cdâng lên rt nhanh. Bão vào Việt Nam ngày càng mạnh sóng vào từ các cơn bão thường là rất cao vi thé đối với nước ta hệ thống dé did à cực kì quan trọng để bảo vệ tính mạng à tài sản của người dân và của nhà nước. Nội dung của công tác quản lý đê điều Có nhiều nội dung liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương về công tác quản lý đê điều, nhưng tựu chung lại có thể nhóm thành.
những nội dung chính sau đây [5] ~ Tổ chức bộ máy quản lý dé điều; - Xã dựng, ban hành hệ thông các chính sách về quản lý dé đi 3 ~ Quy hoạch, quản lý đầu tư xây dựng, cải tao, nâng cấp, kiên cố hóa hệ thống đê điều; - Tổ chức bảo vệ và quản lý sử dung dé điều; - Tổ chức tốt điều kiện tài chính, nhân lực, công tác hộ đê; ~ Ap dụng tiến bộ kỹ thuật và hợp tác trong quản lý đê điều; ~ Xử lý các vi phạm về đê điều; ~ Giám sát hoạt động trong quản lý đề điều. Quá trình phát triển đê điều ở một số quốc gia và Việt Nam 1. Tình hình phát triển đê điều ở mi số quốc gia 1. Tình hình phát trién đê điều ở Hà Lan “Trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay thì các hệ thống đê điều ngày.
cảng được đầu tư phát triển nhằm ứng phó với nguy cơ nước đâng. Tiêu biểu cho các công trình đê điều là các công trình đê biển ở Hà Lan. ‘Tay Bắc của Châu Âu, Ha Lan được biết đến là một dat nước với hơn 60% diện tích đất nằm thấp hơn so với mực nước biển. Hà Lan đã xây dựng hệ thống các công trình đê bid kè biển, cửa cổng và của chấn nhằm bảo vệ khu vực đất dai rộng lớn khu vực phía Tây - Nam chiếm 27% lãnh thé của quốc gia này nằm đưới mực nước biển ở độ sâu 6,74m.
Đề biển AfSluitdijk là một trong những minh chứng điển hình với tổng chiéu dai hơn 32km, rộng 90m, và độ cao ban đầu 7,25m trên mực nước biển trung bình. Công trình này. chạy đài từ mũi Den Oever thuộc tinh Noord Holland lên đến mũi Zurich thuộc tinh Friesland được xây dựng từ 1927 đến 1933 dé bi n ARluitdjk đóng vai trò quyết định trong quy hoạch tổng thể điều phối thuỷ văn, chống, lụt, rửa mặn, và tưới tiêu lớn nhất Hà Lan trong thé kỷ 20. Mục đích chính.
của dự án là nhằm giáp Hà Lan giảm thiể tối đa tác động cia biên Bắc đến hoại động thuỷ sản và nông nghiệp khu vực các tính phía Bắc. Giờ đây, hệ thống dé biển ở Hà Lan đã trở thành một bức trường thành ngăn chặn các thảm họa của biến đổi khí hậu. Người ta có thể vượt trên các. con dé, kè biển với tốc độ hơn 100km/giờ.
ở một số đoạn của con dé, người ta 4 còn xây dựng các nhà him, khách sạn và bảo tàng phục vụ du khách từ các nơi đến tham quan và nghiên cứu kinh nghiệm của Hà Lan. Mức đảm bảo chống lũ hiện tại của hệ thống dé của Hà Lan cao hon của nước ta rất nhiều, tới đây mức đảm bảo chống lũ ở một số khu vực của Hà Lan sẽ được nâng lên gấp 10 lần so với hiện nay, có nơi đưa lên tới tần suất 10.000 năm xuất hiện một lần, còn ở Việt Nam, đa số ở mức 50-100 năm xuất hiện một lần, riêng sông Hồng sau khi hd Sơn La vào hoạt động thì đạt mức. đảm bảo chống lũ 500 năm xuất hiện một lần. Hệ thống đê của Hà Lan luôn được kết hợp làm hệ thống đường giao thông hiện đại vừa tiết kiệm đầu tư, vira tiết kiệm đất và thuận lợi cho quản lý khai thác.
Quan điểm xây dựng đê thân thiện với môi trường, với hình thức đê này, kết hợp với việc trồng rừng. ngập mặn và cỏ bảo vệ đề sẽ tạo ra một số ưu điềm như: Độ an toàn cao; gần gửi với thiên nhiên; bổ trí giao thông thuận lợi; có thể tiếp tục sản xuất nông có thể kết hợp bố trí du lịch, vui chơi giải trí, hoạt động văn hóa và đồ 1. Tình hình phát triển dé điều ở Hàn Quốc và Indonesia 'Công trình đê biển dài nhất thé giới của Hàn Quốc dai 33. DE Saemangeum cách thành phổ Seoul khoảng 200 km về phía nam.
Nó có một xa lộ ở phía trên. Dé chắn biển mang tên Saemangeum bao quanh một vùng. biển có điện tích 401 km2 - bằng khoảng 2/3 diện tích thành phố Seoul. Với chiều đài 33,9 km, nó nằm giữa biển Hoàng Hải và cửa sông Saemangeum.
Dé chắn biển Saemangeum sẽ biến những bãi lầy và nước thủy triều thành. tác động tích cực, với du lịch, nông nghiệp và môi trường và biển một vùng đất hoang rộng lớn thành đắt trồng trọt. Chính phủ Hàn Quốc sé một thành phố mới để phát triển các ngành công nghiệp, vận tải, du lịch, giải trí và trồng hoa. Ngoài ra vùng đất được khai hoang và thành phố cảng Gunsan sẽ cùng sở hữu một khu phức hợp kinh tế quốc tế, được gọi là Khu vực tự do kinh tế Saemangeum - Gunsan.
Khu phức hợp này sẽ được xây xong vào năm 2020. $ Indonesia một trong năm nước trên thể giới được dự báo sẽ bị tác động nặng nề nhất do nước biển dâng cao vì thé họ dự định xây dựng một con dé khối ồ sẽ bảo vệ thủ đô Jakarta trước tinh trạng biển đổi khí hậu bảo vệ và cải thiện tình hình ngập lụt ở khu vực Bắc Jakarta, cũng như đổi phó với nguy ‘co nước bién ding trong những thập ky tới. Với kinh phí 5 ti USD vay của Hà Lan va được thanh toán chủ yếu bằng tiền huy động từ nguồn vốn tư nhân, dự. khiến con đê khổng lỗ này sẽ dài 60 km, từ Tangerang, Jakarta đến Bekasi ở phía bắc thủ đô.
Ngoài việc ngăn nước biển, theo tỉnh trưởng Jakarta, Fauzi Bowo, con đê này sẽ tạo ra một đập nước khổng lồ đa chức năng, trong đó có việc cung cấp nước sạch cho thành phổ. Dự kiến bắt đầu vào cuối tháng 11/2012, và việc mở thầu cho các dự án liên quan sẽ được tiền hành vào năm 2014 tại Hà Lan, để có thể bắt đầu khởi công vào năm 2015 và hoàn thành sau 10 năm xây dựng.