Chương 1 TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG, THÀNH PHẦN, NỘI DUNG TÀI LIỆU CỦA CHÍNH QUYỀN PHƯỜNG, XÃ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Khái quát về tổ chức chính quyền các cấp ở thành phố Hồ Chí Minh 1. Sơ lược về lịch sử thành phố Hồ Chí Minh Khi người Pháp vào Đông Dương, để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, thành phố Sài Gòn được thành lập và nhanh chóng phát triển trở thành một trong hai đô thị quan trọng nhất Việt Nam, được mệnh danh là Hòn ngọc Viễn Đông hay Paris của Phương Đông. Sài Gòn là thủ đô của Liên Bang Đông Dương giai đoạn 1887-1901.
Năm 1954, Sài Gòn trở thành thủ đô của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Thành phố hoa lệ này là một trong những đô thị quan trọng của vùng Đông Nam Á. Ngày 30/04/1975, chính quyền Việt Nam Cộng hòa bị xóa bỏ, thành phố Sài Gòn thuộc quyền quản lý của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tại thời điểm này, đô thành Sài Gòn, tỉnh Gia Định và 2 quận Củ Chi và Phú Hòa dưới thời chính quyền Việt Nam Cộng hòa được hợp nhất thành 1 đơn vị hành chính gọi là thành phố Sài Gòn - Gia Định.
Đầu năm 1976, Đảng bộ và Ủy ban nhân dân thành phố bắt đầu hoạt động. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành thành phố Hồ Chí Minh.31} Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, thành phố Hồ Chí Minh có hai mùa rõ rệt, đó là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 11 với lượng mưa bình quân hàng năm là 1.979 mm và mùa khô diễn ra từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau với nhiệt độ trung bình là 27,55 0C. Về thành phần dân cư thành phố Hồ Chí Minh Dân số năm 1929 của Thành phố là 123.890 người trong số đó có 12.100 người Pháp.
Kể từ sau năm 1975, dân số thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu tăng nhanh. Theo thống kê chính thức, dân số Thành phố năm 1975 là 3.120 người; đến năm 2011, dân số toàn Thành phố đạt 7.100 người, với diện tích 20.956 km2, mật độ dân cư trung bình của Thành phố đạt 3.589 người/km². 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong đó dân cư sống tại thành thị đạt gần 6.700 người, sống tại nông thôn đạt 1. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của Thành phố là 7,4 %/năm.35} Sự phân bố dân cư ở thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều.
Trong khi một số quận như quận 4, quận 5 và quận 11 có mật độ dân cư lên tới khoảng 40.000 người/km², thì huyện ngoại thành Cần Giờ có mật độ khá thấp: 980 người/km². Toàn Thành phố có 13 tôn giáo khác nhau với tổng số là: 1.048 tín đồ, nhiều nhất là Phật giáo có 1.930 phật tử, tiếp theo là Thiên Chúa Giáo đạt 745.283 tín đồ, Đạo Cao đài có 31.633 tín đồ, đạo Tin lành có 27.580 tín đồ, Phật Giáo Hòa hảo có 4.894 tín đồ, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 1. Còn lại là các tôn giáo khác. Thành phố Hồ Chí Minh có đủ 54 thành phần dân tộc sinh sống.
Trong đó, nhiều nhất là người Kinh, có: 6.124 người, còn lại là các dân tộc khác. Theo số liệu thống kê tại Niên giám thống kê do Cục Thống kê Thành phố, xuất bản năm 2014, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi có nhiều người Hoa, Khơ mer, Chăm sinh sống, người Hoa: 414.045 người, người Khmer: 24.268 người và người Chăm: 7. Về kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thành phố Hồ Chí Minh luôn là một trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ của cả nước, là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là một trong ba vùng kinh tế trọng điểm lớn nhất cả nước. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, về quy mô thành phố chỉ chiếm 0,6% diện tích và 8,3% dân số cả nước, tuy nhiên, năm 2011 đóng góp vào tổng sản phẩm quốc gia đạt: 20,2%, năm 2015 đạt: 30% cả nước.
Giá trị sản xuất công nghiệp đạt: 26,1% cả nước, dự án đầu tư nước ngoài đạt: 44% cả nước.75} Thu ngân sách của thành phố đạt 135. Dự án đầu tư nước ngoài vào Thành phố lớn nhất cả nước.536 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực đến cuối năm 2014 với tổng vốn đầu tư là 3.26 tỷ USD, chiếm 14.9% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam của cả nước. Về tổ chức đơn vị hành chính ở thành phố Hồ Chí Minh 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương. Năm 1976, 11 quận nội thành của Sài Gòn trước đây được chia lại thành 8 quận và lập thêm các quận Gò Vấp, Phú Nhuận, Bình Thạnh, Tân Bình.
Khu vực ngoại thành gồm 5 huyện: Thủ Đức, Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè. Năm 1978, thành phố nhận thêm huyện Duyên Hải của tỉnh Đồng Nai. Năm 1979, các đơn vị hành chính cơ sở được phân chia lại, toàn Thành phố có 261 phường, 86 xã, thị trấn. Sau đợt điều chỉnh năm 1989, Thành phố còn 182 phường và 100 xã, thị trấn.
Đến năm 1997, tổ chức đơn vị hành chính của Thành phố tiếp tục có sự thay đổi, khi đó, Thành phố gồm 17 quận, 5 huyện với 303 phường, xã, thị trấn.56} Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh gồm 19 quận (quận: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, quận Thủ Đức, quận Gò Vấp, quận Bình Thạnh, quận Phú Nhuận, quận Tân Bình, quận Bình Tân, quận Tân Phú) và 5 huyện (huyện Bình Chánh, huyện Cần Giờ, huyện Củ Chi, huyện Hóc Môn, huyện Nhà Bè) với tổng số 322 đơn vị hành chính cấp xã, phường và thị trấn. Trong đó, có 259 phường, 58 xã và 05 thị trấn. {nguồn: Báo cáo công tác xây dựng chính quyền của Sở Nội vụ Thành phố năm 2015} Theo Nghị quyết số:724/2009/UBTVQH12 ngày 16/01/2009 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội về Danh sách huyện, quận, phường các tỉnh, thành phố thuộc Trung ương thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường và Nghị quyết số: 725/2009/UBTVQH12 ngày 16/01/2009 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội về Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thuộc trung ương và quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân quận, huyện và phường nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân, kể từ ngày 01/4/2009 tất cả các huyện, quận (24 huyện, quận) và các phường (259 phường) của Thành phố không tổ chức Hội đồng nhân dân. Tổ chức bộ máy chính quyền cấp phường, xã nói chung và chính quyền phường, xã ở thành phố Hồ Chí Minh 1.
Vai trò của chính quyền cấp phường, xã: Hiện nay, theo quan điểm chung nhất và được nhiều nhà khoa học thừa nhận, thuật ngữ chính quyền địa phương và cấp chính quyền địa phương được giải thích như sau: 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chính quyền địa phương là hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập. Chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.{Điều 111, Hiến pháp 2013} Theo điều 110, chương IX, Hiến pháp 2013 quy định về chính quyền địa phương, các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương. Huyện chia thành xã, thị trấn. Thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã.
Quận chia thành phường. {Điều 110, Hiến pháp 2013} Chính quyền địa phương cấp phường, xã của Việt Nam là một bộ phận hợp thành bộ máy nhà nước, bao gồm: Hội đồng nhân dân phường, xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Ủy ban nhân nhân phường, xã do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Chính quyền cấp phường, xã là cầu nối giữa nhà nước, các tổ chức với nhân dân, đại diện cho nhà nước, nhân danh nhà nước để thực thi quyền lực nhà nước, triển khai, tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước.
Chính quyền cấp phường, xã vừa phải thể hiện uy quyền để thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà nhà nước giao; vừa phải mềm dẻo, linh hoạt khi tiếp xúc, làm việc với nhân dân, đáp ứng những nhu cầu đa dạng của nhân dân; đồng thời phải thực hiện đúng pháp luật, phù hợp với truyền thống và điều kiện của từng địa phương. Do vậy, việc tổ chức và hoạt động của 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính quyền cấp phường, xã khá phức tạp, dễ dẫn đến tình trạng hình thức, kém hiệu quả hoặc lạm quyền. Chính quyền cấp phường, xã là nơi trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội, đảm bảo các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước đi vào cuộc sống, không ngừng nâng cao chất lượng đời sống cho nhân dân. Do vậy, bộ máy chính quyền phường, xã hoạt động có hiệu quả là đóng góp quan trọng trong hoạt động quản lý của nhà nước, đồng thời cung cấp các dịch vụ công phục vụ nhu cầu thiết yếu của nhân dân.
Chính quyền phường, xã thành phố Hồ Chí Minh 1. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của UBND phường, xã 1.