Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tại Trung tâm tin học, Văn phòng Chính phủ giai đoạn 2009 - 2012. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tại Trung tâm Tin học, Văn phòng Chính phủ đến 2016. 5 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1.
Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập Để xây dựng một cơ chế quản lý hiệu quả đối với các ĐVSNCL, trƣớc tiên phải xây dựng khái niệm đúng đắn, hoàn chỉnh về ĐVSNCL, mang đầy đủ những đặc điểm về tính chất hoạt động, phƣơng thức qủan lý. Trong những năm qua, các cơ quan nhà nƣớc đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến ĐVSNCL nhƣng lại không đƣa ra khái niệm về các đơn vị này, cho tới khi Luật Viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010 của Quốc Hội ra đời, Khoản 1, Điều 9 đã đƣa ra khái niệm: “ĐVSNCL là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Đảng, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thành lập; có tư cách pháp nhân cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” [15]. Hiện nay, hoạt động cung cấp các dịch vụ công thiết yếu không còn là độc quyền của các ĐVSNCL mà có sự bình đẳng về quyền giữa các đơn vị trong và ngoài công lập.
Điểm khác biệt giữa ĐVSNCL và các đơn vị khác là đƣợc thành lập bởi những cơ quan có thẩm quyền của nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập Đặc điểm chính của ĐVSNCL là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nên các chủ thể trong xã hội khi sử dụng các dịch vụ công đƣợc hƣởng nhiều lợi ích hơn là những chi phí mà họ phải chi trả. Sản phẩm của ĐVSNCL cung cấp cho toàn xã hội có tính bền vững và lâu dài, gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần cho xã hội. 6 z Kết quả của các hoạt động sự nghiệp chủ yếu là tạo ra các sản phẩm hàng hoá công cộng vật chất hoặc phi vật chất phục vụ cho quá trình tái sản xuất xã hội.
ĐVSNCL hoạt động đa dạng trong rất nhiều lĩnh vực, mỗi lĩnh vực khác nhau mang lại sản phẩm khác nhau nhƣ hoạt động giáo dục và đào tạo mang lại những con ngƣời tài đức, hoạt động văn hoá mang lại giá trị tình thần to lớn cho nhân loại, hoạt động sự nghiệp y tế mang lại sức khoẻ cho con ngƣời, hoạt động kinh tế mang lại tiềm lực kinh tế. tạo điều kiện nâng cao chất lƣợng lao động. Khi chất lƣợng lao động ngày càng đƣợc nâng cao thì yêu cầu và việc cung cấp các dịch vụ công nghệ cao cho xã hội ngày càng đóng vai trò quan trọng. Vì vậy hoạt động sự nghiệp luôn gắn bó hữu cơ và có tác động tích cực đến quá trình tái sản xuất xã hội.
Nguồn kinh phí chính để duy trì hoạt động thƣờng xuyên của ĐVSN do ngân sách Nhà nƣớc cấp. Do đó hoạt động của ĐVSN luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chƣơng trình phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động ĐVSNCL đƣợc phép thu một số các loại phí, lệ phí do Nhà nƣớc quy định để tiến hành các hoạt động cung ứng dịch vụ và bù đắp một phần chi phí hoạt động thƣờng xuyên góp phần tăng thu nhập cho ngƣời lao động trong đơn vị. Nguồn thu này gọi là thu sự nghiệp, nó rất quan trọng đối với đơn vị, là một trong những động lực làm cho các ĐVSN hoạt động có hiệu quả hơn, cung ứng các dịch vụ ngày càng tốt hơn cho xã hội.
Đây cũng là nguồn thu góp phần to lớn trong việc giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nƣớc. Trong nền kinh tế thị trƣờng việc duy trì các hoạt động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội. Để thực hiện phát triển các mục tiêu kinh tế xã hội nhất định, trong mỗi thời kỳ, Nhà nƣớc với vai trò lãnh đạo của mình đã duy trì và phát triển các hoạt động sự nghiệp đem lại lợi 7 z ích kinh tế, gắn mục tiêu quốc gia với các chƣơng trình phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc đem lại lợi ích thiết thực cho ngƣời dân. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Có nhiều cách để phân loại ĐVSNCL, nhƣng thƣờng căn cứ vào khả năng tự đảm bảo nguồn kinh phí hoạt động.
Theo đó việc phân loại ĐVSNCL theo quy định tại điều 9 Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006. + Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thƣờng xuyên, phần còn lại đƣợc ngân sách nhà nƣớc cấp (gọi tắt là ĐVSN tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động). + Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, ĐVSN không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thƣờng xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nƣớc bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là ĐVSN do ngân sách nhà nƣớc bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động) [12]. Đối với các ĐVSN đặc thù, đơn vị có quy trình hoạt động đặc thù việc xác định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính của các ĐVSN thực hiện theo loại của ĐVSN cấp trên.
Việc phân loại ĐVSN theo quy định trên đƣợc ổn định trong thời gian 3 năm. Sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp. Cách xác định để phân loại ĐVSN: Tổng số nguồn thu Mức tự bảo đảm chi phí sự nghiệp hoạt động thƣờng xuyên = x 100 % Tổng số chi hoạt động của đơn vị (%) thƣờng xuyên 8 z Trong đó: Tổng số nguồn thu sự nghiệp và tổng số chi hoạt động thƣờng xuyên tính theo dự toán thu, chi của năm đầu thời kỳ ổn định. [3] (2) Căn cứ vào mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên, ĐVSN được phân loại như sau: ĐVSN tự bảo đảm chi phí hoạt động ĐVSN tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động ĐVSN do ngân sách nhà nƣớc bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động.
ĐVSN có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thƣờng xuyên xác định theo công thức trên, từ 10% trở xuống. ĐVSN không có nguồn thu. Đối với các ĐVSN đặc thù, các ĐVSN có quy trình hoạt động đặc thù thì đƣợc phân loại theo loại của ĐVSN cấp trên. Cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập 1.
Khái niệm cơ chế tự chủ tài chính Cơ chế là một thuật ngữ thƣờng để chỉ một kết cấu chặt chẽ về mặt tổ chức của nhiều bộ phận khác nhau, có quan hệ tƣơng hỗ chặt chẽ với nhau và những quy trình, quy tắc để vận hành toàn bộ kết cấu ấy nhằm đạt tới một mục tiêu nhất định. Nói cách khác, cơ chế dùng để chỉ hình thái tồn tại của sự vật đang vận động thành một hệ thống và nhờ đó hệ thống có thể hoạt động. Cơ chế là tổng thể các yếu tố có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, làm 9 z mắt xích trong quá trình vận động của sự vật tạo thành động lực dẫn dắt một nền kinh tế hay sự hoạt động về một lĩnh vực nào đó. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, cơ chế quản lý là cách thức tổ chức, vận hành cụ thể các biện pháp để đạt đƣợc những yêu cầu và mục tiêu quản lý đã đề ra.
Cơ chế quản lý thƣờng đƣợc biểu hiện thông qua hệ thống các văn bản pháp luật do các cơ quan lập pháp hoặc hành pháp ban hành nhƣ Luật, Nghị định, Thông tƣ. Nhƣ vậy, có thể hiểu cơ chế tự chủ tài chính nhƣ sau: Cơ chế tự chủ tài chính là cơ chế mà các đơn vị, cơ quan được chủ động và chịu trách nhiệm trước Nhà nước trong việc tạo nguồn thu và chi tiêu trong đơn vị, cơ quan nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Vai trò cơ chế tự chủ tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập Cơ chế tự chủ tài chính là cơ chế đúng đắn góp phần đảm bảo: - Cung cấp các dịch vụ công về các lĩnh vực; giáo dục, y tế, thể dục, thể thao. - Thực hiện nhiệm vụ chính trị đƣợc giao nhƣ: đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có chất lƣợng và tình độ, nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, cung cấp các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật.
- Vai trò chủ đạo trong việc tham gia đề xuất và thực hiện các đề án, chƣơng trình lớn phục vụ phát triển kinh tế đất nƣớc. Thông qua hoạt động thu phí, lệ phí theo quy định của Nhà nƣớc đã góp phần tăng cƣờng nguồn lực cùng với ngân sách nhà nƣớc (NSNN) đẩy mạnh đa dạng hóa và xã hội hóa nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Nguyên tắc tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập Để thực hiện tốt tự chủ tài chính tài chính phải đảm bảo các nguyên tắc sau: - Bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao đối với các cơ quan quản lý nhà nƣớc phải thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ đƣợc giao, phát huy tối 10 z đa khả năng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao tinh thần thái độ phục vụ của cán bộ công chức. - Thực hiện công khai, dân chủ và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của cán bộ công chức.
Các hoạt động tài chính của đơn vị phải đƣợc quy định cụ thể hóa với sự nhất trí cao của tập thể cán bộ công chức và phải công khai đầy đủ các khoản thu - chi. - Thực hiện quyền tự chủ phải gắn với tự chịu trách nhiệm trƣớc cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp và trƣớc pháp luật về những quy định, quyết định của mình, đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. - Bảo đảm lợi ích của Nhà nƣớc, quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật [12]. Một trong những vấn đề dặt ra trong quản lý tài chính là vấn đề tự chủ của các ĐVSN.
Vấn đề này phụ thuộc vào quan điểm tập trung và phân cấp quản lý cho các đơn vị trực thuộc. Phân cấp trong quản lý là vấn đề còn có nhiều sự khác nhau về nhận thức.