CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO QUAN ĐIỂM TỰ CHỦ 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Những năm gần đây trên thế giới và tại Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về quản lí giáo dục nói chung và quản lí tài chính trong giáo dục nói riêng. Các nghiên cứu tiêu biểu đó là: Paulsen M.C nói về sự đa dạng của các chính sách tài chính giáo dục: Các chính sách cho việc phân bổ ngân sách (công thức phân bổ, phân bổ dựa trên hiệu quả hoạt động, phân bổ theo các lĩnh vực hoạt động), chính sách tài chính cho giáo viên và học sinh (Nguyễn Thị Vân Anh, 2015).
Các tác giả đã tìm ra bản chất và quá trình hình thành các chính sách tài chính ở các cấp độ trung ương, địa phương và cấp độ nhà trường; Chandrasekhar C.P nhấn mạnh tầm quan trọng của các chính sách tài chính, cho rằng các chính sách tài chính được sử dụng để ảnh hưởng, hoàn thiện và điều hành các hoạt động tài chính của các tổ chức tài chính nhằm thực hiện mục tiêu kép của việc tăng trưởng và sự phát triển con người. Tác giả chỉ ra rằng các chính sách tài chính cần được hình thành bao gồm: Chính sách giúp xác lập cơ cấu tổ chức tài chính, chính sách điều hành hoạt động tài chính và các chính sách thực hiện các thành tố của cấu trúc tài chính để thực hiện các mục tiêu đã đề ra (Nguyễn Thị Liên Phương, 2015). Nhiều công trình của các tác giả nước ngoài cũng đã nghiên cứu về vấn đề tài chính giáo dục ở Việt Nam. Theo các nghiên cứu về giáo dục Việt Nam được thực hiện bởi Kellaghan, Greany, Muray(2009) thì Việt Nam trong những năm qua đã có những bước chuyển biến quan trọng về giáo dục, đặc biệt là tỉ lệ chi cho giáo dục và đào tạo từ nguồn NSNN tăng một cách đáng kể trong vòng 05 năm, từ 14.99% tổng chi NSNN năm 2000 lên 20% ở năm 2008 (chiếm 8.3% GDP); đồng thời các tác giả trong các nghiên cứu của mình 8 cũng đề cập tới các vấn đề có liên quan nhiều đến ảnh hưởng của nguồn lực tài chính và cách thức phân bổ và quản lí nguồn lực này ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục và việc thực hiện các chính sách nâng cao chất lượng giáo dục (Nguyễn Thị Vân Anh, 2015).B, Tazeen Fasih và Patrinos H.A cùng với Lucrecia Santibanez (Nguyễn Hồng Thuận, 2009), các tác giả nói trên đã có các nghiên cứu về phương thức quản lí nhà trường tự chủ dựa trên việc đưa ra khung khái niệm về phân tích việc trao quyền tự chủ cho các nhà trường (quản lí dựa vào nhà trường) có tác dụng như thế nào đối với sự tham gia của các thành viên trong nhà trường để nâng cao chất lượng sản phẩm đầu ra của nhà trường.
Cùng với việc đưa ra khung khái niệm về nhà trường tự chủ, các nghiên cứu này cũng đề cập tới việc quản lí nhà trường thông qua việc xây dựng cơ cấu tổ chức có sự tham gia của các tiểu ủy ban và hội đồng trường để từ đó có thể huy động tối đa và toàn diện sự tham gia của các cá nhân và tổ chức trong và ngoài nhà trường vào công tác quản lí nhà trường nói chung, phân bổ và sử dụng ngân sách, phát huy tối đa quyền làm chủ và trách nhiệm của các thành viên trong việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính trong nhà trường nói riêng. Nghiên cứu của các tác giả này cũng bàn về tác dụng của quá trình phân cấp quản lí, trao quyền tự chủ cho nhà trường trong việc quản lí tài chính giúp nâng cao chất lượng và công bằng giáo dục nhờ việc đưa ra các quyết định phù hợp hơn với nhu cầu của học sinh, cha mẹ học sinh cũng như của bản thân nhà trường. Trong nghiên cứu nói trên cũng đồng thời thực hiện một số nghiên cứu về so sánh chất lượng giữa trường tư và trường công ở Mỹ và nhận thấy chất lượng các trường tư thường cao hơn các trường công vì các trường tư thường có nhiều quyền tự chủ, tự quản và tạo nhiều điều kiện thuận lợi để giáo viên phát huy các sáng kiến hơn các trường công. Paramasivan trong cuốn sách “Finacial mamagement” do Nhà xuất bản New Age International Limited Publishers xuất bản năm 2012 đã 9 nhấn mạnh tới tầm quan trọng của quản lí tài chính (C.
Ấn phẩm này áp dụng một cách tiếp cận mới và sáng tạo để nghiên cứu về quản lí tài chính cho các sinh viên của trình độ cử nhân và cao học kinh tế tài chính hoặc các khóa học chuyên nghiệp khác. Nhìn chung, các học giả nước ngoài đã đề cập đến những vấn đề vĩ mô của hoạt động tài chính và quản lí tài chính. Các nghiên cứu ở trong nước Tại Việt Nam, cùng với xu thế phát triển chung của thế giới cũng đã có nhiều đề tài NCKH tổ chức nghiên cứu lí luận và thực tiễn quản lí tài chính ngành giáo dục trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam như: Đề tài nghiên cứu: “Các biện pháp huy động nguồn tài chính trong đầu tư phát triển giáo dục đại học Việt Nam” của Đỗ Bích Loan (Đỗ Bích Loan, 2009) với mục đích nghiên cứu: Đề xuất các biện pháp (trong khuôn khổ chính sách, cơ chế) huy động các nguồn tài chính trong đầu tư phát triển giáo dục đại học Việt Nam; Luận án tiến sỹ Giáo dục học của Nguyễn Tiến Hùng với đề tài: “Cơ sở lí luận và thực tiễn về phân cấp quản lí trường trung học phổ thông Việt Nam” (Nguyễn Tiến Hùng, 2005); Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Anh Thái với tiêu đề: “Hoàn thiện cơ chế quản lí tài chính đối với các trường đại học ở Việt Nam” (Nguyễn Anh Thái, 2008) và đề tài nghiên cứu của Vương Thanh Hương: “Nghiên cứu quản lí tài chính giáo dục đại học của một số nước trên thế giới” (Vương Thanh Hương, 2012); Đề tài nghiên cứu của Nguyễn Hồng Thuận: “Đổi mới phân cấp quản lí trường THPT Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế” (Nguyễn Hồng Thuận, 2009). Gần nhất là đề tài trọng điểm cấp Đại học quốc gia của nhóm nghiên cứu Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đỗ Thị Thu Hằng và cộng sự: “Nghiên cứu các chính sách phi tập trung hóa tài chính cho giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đối với các trường trung học phổ thông Việt Nam” (Nguyễn Thị Vân Anh, 2015).
10 Gần đây ở khu vực Đông – Nam bộ có: Đề tài nghiên cứu do Vũ Lan Hương làm chủ nhiệm với tiêu đề: “Một số biện pháp thực hiện chế độ tự chủ tự chịu trách nhiệm về tài chính trong các trường phổ thông công lập ở các tỉnh miền Đông và Tây Nam bộ” (Nguyễn Thị Liên Phương, 2015). Theo kết quả nghiên cứu của đề tài đã làm rõ một số vấn đề: (i) về lí luận đã hệ thống hóa lí luận về nhà trường tự chủ nói chung và tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quản lí tài chính nói riêng trong xu hướng phân cấp, phân quyền làm cơ sở cho việc xây dựng và nâng cao chất lượng quản lí giáo dục ở Việt Nam; (ii) về thực tiễn nghiên cứu cũng chỉ ra một số bất cập (như năng lực của cán bộ quản lí; một số vướng mắc về cơ chế và quan hệ giữa các cấp có thẩm quyền trong công tác phân bổ và quản lí nguồn lực tài chính cho giáo dục) ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm (hay tự chịu trách nhiệm) trong các trường phổ thông công lập ở các tỉnh miền Đông và Tây Nam bộ. Kết quả đề tài dừng lại việc đề xuất một số biện pháp về điều chỉnh cơ chế và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lí tài chính trường THPT. Viện Chiến lược và Chính sách tài chính và Vụ Hành chính sự nghiệp của Bộ Tài chính đã tổ chức hội thảo “Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ”.
Hội thảo đã tập trung thảo luận về hệ thống cơ chế quản lí tài chính; mô hình hoạt động và phương thức phân bổ nguồn lực; hệ thống các tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật; cơ chế về giá dịch vụ; hạch toán kế toán cũng như hoạt động theo kết quả đầu ra và vấn đề quản lí nguồn nhân sự. Hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ một cách minh bạch, rõ ràng, gắn hiệu quả công việc như mô hình hoạt động. Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công có khả năng xã hội hóa cao, tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thì cần đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu 11 trách nhiệm đồng bộ cả về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhân lực, tài chính, tài sản khi cung cấp dịch vụ gắn với nhu cầu của xã hội. Tác giả Bùi Minh Hiền và cộng sự trong cuốn giáo trình “Quản lí giáo dục” đã phân tích, so sánh sự khác biệt giữa các mô hình Quản lí giáo dục của các nước trong lĩnh vực quản lí tài chính (Bùi Minh Hiền và cộng sự, 2006).
Các tác giả đã nêu lên được bản chất vấn đề tài chính trong giáo dục là chính sách sử dụng tiền tệ, quản lí tiền tệ theo các mục đích của nền giáo dục mà Nhà nước có trách nhiệm. Đồng tiền vận động vào hoạt động giáo dục đào tạo hình thành sản phẩm có chức năng kép trong đời sống xã hội. Nó vừa góp phần củng cố hình thái ý thức xã hội, vừa thúc đẩy sự hình thành phát triển sức lao động để có thể tham gia vào thị trường sức lao động trong bối cảnh của nền kinh tế chuyển đổi và toàn cầu hóa. Đồng thời, tác giả đã giới thiệu việc áp dụng các mô hình lí thuyết vào quản lí giáo dục, trong đó nhấn mạnh sự hiện hữu của các nguồn lực.
Sự chuyển đổi nền kinh tế thị trường tạo ra những nguồn lực cho nền giáo dục. Chính sách bao cấp về giáo dục đào tạo đã không còn thích ứng với sự phát triển và những đòi hỏi mới của đời sống xã hội. Nhà nước đã từng bước giao và tăng quyền tự chủ cho các trường để tạo điều kiện tốt nhất cho việc phát huy sáng tạo, tạo mọi nguồn lực để phát triển.