Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản lý tài chính tại Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG 1.1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu Trong những năm gần đây, nghiên cứu hoàn thiện quản lý tài chính áp dụng đối với các đơn vị sự nghiệp không những là một nhu cầu bức xúc mà còn là một nhiệm vụ cấp bách cần được giải quyết, cả khi xét nhu cầu thực tiễn cả trên khía cạnh khoa học của vấn đề. Chính vì vậy, đã có khá nhiều cuốn sách, đề tài nghiên cứu khoa học, bài báo, đề tài luận văn đặc biệt ở trình độ Tiến sĩ, thạc sỹ thực hiện và nghiên cứu về vấn đề này.
Cụ thể như: Nguyễn Tấn Lượng (2011) trong một nghiên cứu về “Hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường Đại học Công lập tự chủ tài chính trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” : Đã nghiên cứu cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm và cơ chế quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công nói chung và các trường ĐHCL nói riêng về mặt lý thuyết. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính cho các đơn vị, như: hoàn thiện môi trường pháp lý, tăng cường đầu tư của nhà nước xây dựng cơ sở vật chất cho các trường đại học công, hoàn thiện phương thức giao ngân sách cho giáo dục đại học, tăng quyền tự chủ cho các trường đại học công trước hết là các trường trọng điểm trong việc tuyển sinh, chương trình đào tạo, hình thức cấp bằng đào tạo, nhà nước cần trao cho các trường Đại học trọng điểm, các trường đại học công tự chủ hoàn toàn về kinh phí hoạt động thường xuyên được quyền tự chủ về mức thu học phí…. Tô Quang Nhật (2012) khi nghiên cứu về “Hoàn thiện quản lý tài chính Bệnh viện đa khoa Phố Nối theo cơ chế tự chủ tài chính” : Đã nghiên cứu lý 5 z luận của quản lý bệnh viện công theo cơ chế tự chủ tài chính, thực trạng quản lý tài chính tại bện viện đa khoa phố Nối thông qua công tác lập kế hoạch thu chi, công tác thực hiện kế hoạch thu chi, quyết toán, kiểm tra tài chính … Từ đô đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý tài chính của bệnh viện đa khoa phố Nối. Lê Quang Ngọc (2013) trong đề tài nghiên cứu về Hoàn thiện quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp giáo dục công, trường hợp trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Phú Thọ đã đề cập đến các cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công như lý luận chung về đơn vị sự nghiệp công và chính sách tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công, khái niệm, đặc điểm hoạt động và các loại hình đơn vị sự nghiệp công trên cơ sở thực tiễn mục tiêu, nguyên tắc và nội dung quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp, tổng quan nghiên cứu về quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp… Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011- 2015.
Từ đó, đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ. Phạm Chí Thanh (2011) luận văn nghiên cứu “ Đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công ở Việt Nam” đã nghiên cứu, làm rõ bản chất kinh tế, vai trò, địa vị của đơn vị sự nghiệp công trong nền kinh tế, những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công trong điều kiện kinh tế thị trường. Làm rõ sự cần thiết và kiến nghị những giải pháp nhằm đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công trong điều kiện chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tuy vậy, những đề xuất của tác giả chưa đi sâu đánh giá về định lượng, do vậy trong hoạt động 6 z thực tiễn cần lượng hóa các tác động của chính sách để có những đánh giá phù hợp.
Các nghiên cứu trên hầu hết đều gắn với một đơn vị sự nghiệp cụ thể, và khá thành công trong việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về nội dung quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp và phân tích tình hình quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp. Các tác giả lựa chọn việc phân tích tình hình quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp để từ đó đưa ra các phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp. Tuy nhiên, đa số các đề tài chỉ tập trung phân tích những đặc điểm đặc thù của đơn vị mình mà chưa đưa ra giải pháp chung cho các đơn vị sự nghiệp khác.Với Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia, một đơn vị vừa có những nội dung của một đơn vị sự nghiệp công, vừa có những nét đặc thù của một đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phát triển khoa học công nghệ thì chưa có công trình nào nghiên cứu về công tác quản lý tài chính của Quỹ. Trên cơ sở kế thừa hệ thống cơ sở lý luận về nội dung quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp nói chung và nội dung quản lý tài chính của đơn vị mình công tác.
Tác giả mong muốn vận dụng có chọn lọc những nguyên lý chung và những kết quả đã công bố, gắn liền với đặc thù của đơn vị để thực hiện luận văn này. Chính vì vậy tác giả chọn đề tài : “ Quản lý tài chính tại Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia” cho bản luận văn tốt nghiệp của mình.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của đơn vị sự nghiệp công 1.1 Khái niệm và đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công Đơn vị sự nghiệp công là những tổ chức được thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp. Hoạt động sự nghiệp là những hoạt động cung cấp dịch vụ công cho xã hội nhằm duy trì và đàm bảo sự hoạt động bình thường của xã hội. Hoạt động sự nghiệp không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nhưng nó tác động trực tiếp tới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tính quyết 7 z định năng suất lao động xã hội.
Những hoạt động sự nghiệp mang tính chất phục vụ là chủ yếu và không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Đơn vị công được xác định dựa trên những tiêu chuẩn sau: - Có văn bản quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp cuả cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương - Được nhà nước cấp kinh phí và tài sản để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và được phép thực hiện một số khoản thu phí, lệ phí theo chế độ Nhà nước quy định. 8 z - Có tổ chức bộ máy biên chế và bộ máy quản lý kế toán theo chế độ nhà nước quy định - Có mở tài khoản tại kho bạc nhà nước để kiểm soát các khoản thu, chi tài chính Các đơn vị sự nghiệp công có những đặc điểm cơ bản sau: > Đơn vị sự nghiệp công là những tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội không vì mục tiêu lợi nhuận Khác với hoạt động sản suất kinh doanh, hoạt động sự nghiệp cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế nhưng mục đích chính không phải vì mục tiêu lợi nhuận, Nhà nước duy trì, tổ chức, tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp vào thị trường. Nhờ đó, nhà nước hỗ trợ cho các ngành kinh tế hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo phát triên nguồn lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, đảm bảo không ngừng nâng cao đời sống, sức khỏe, văn hóa và tinh thần của nhân dân.
> Kết quả của hoạt động sự nghiệp chủ yếu là tạo ra các dịch vụ công, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình tái sản suất xã hội Nhờ việc sử dụng các hàng hóa công cộng do hoạt động sự nghiệp tạo ra mà quá trình tái sản xuất ra của cái vật chất trong xã hội được thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao. Hoạt động sự nghiệp giáo dục, y tế, thể dục, thể thao mang đến trí thức và đảm bảo sức khỏe cho lực lượng lao động, tạo điều kiện cho nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng tốt hơn. Hoạt dộng sự nghiệp khoa học, văn hóa mang lại những hiểu biết về tự nhiên, xã hội, tạo ra những công nghệ mới phục vụ sản xuất và đời sống. Vì vậy, hoạt động sự nghiệp luôn gắn bó hữu cơ và tác động tích cực tới quá trình sản xuất xã hội.
9 z > Hoạt động sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội của nhà nước Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước tổ chức, duy trì hoạt động sự nghiệp để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội. Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nhất định, trong mỗi thời kỳ, nhà nước có các chủ trương, chính sách, có các chương trình mục tiêu kinh tế xã hội như; chương trình xóa mù chữ, chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình dân số- kế hoach hóa gia đình, chương trình phòng chống AIDS… Các chương trình này chỉ có nhà nước, với vai trò của mình mới có thể thực hiện một cách đầy đủ và hiệu quả. Nhà nước duy trì và phát triển các hoạt động sự nghiệp gắn với các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước nhằm mang lại lợi ích cho người dân.