CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LY TÀI CHÍNH ĐÓI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến lĩnh vực quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Có thé nêu một số bài phân tích, bình luận trên tạp chí, chăng hạn như: - Nguyễn Phú Giang, 2014. Quản lý tài chính don vị sự nghiệp và những van dé đặt ra hiện nay,< http://www.
Bài viết của tác giả đã nêu ra tầm quan trọng của quản lý tài chính tại đơn vị SNCL. Và dé việc quan lý tài chính có hiệu quả, công tác quản lý cần thực hiện ba khâu: thứ nhất, lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước (NSNN) trong phạm vi được cấp thâm quyền giao hàng năm; thứ hai, tổ chức chấp hành dự toán tài chính hàng năm theo chính sách của Nhà nước; thứ ba, quyết toán thu chi NSNN. Qua đó, tác giả cũng đã nêu rõ những van đề đặt ra đối với quản lý tài chính đơn vị SNCL ở Việt Nam hiện nay góp phần vào công tác hoàn thiện quản lý tài chính tại đơn vi sự nghiệp. - Tạp chí tài chính số 10, 2014.
Để đổi mới hiệu quả cơ chế quản lý hoạt động sự nghiệp công lập. Bài viết của tác giả đã nêu ra thực trạng cơ chế quản lý hoạt động sự nghiệp công, những hạn chế trong việc đổi mới cơ chế quản lý hoạt động SNCL như chính sách hai giá vẫn được duy trì trong việc cung cấp dịch vụ sự nghiệp công hay cơ chế quản lý và phương thức hoạt động của các đơn vị SNCL chưa được đôi mới đồng bộ dẫn đến chất lượng hiệu quả còn chưa cao. Qua đó, tác giả đưa ra định hướng đôi mới cơ chế hoạt động SNCL và các kiến nghị về chính sách tài chính như Nhà nước phải có các biệ pháp mạnh hơn trong việc yêu câu các bộ, ngành thực hiện việc chuyên đôi từ cơ chê giao dự toán sang cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ dé giao quyén tu chu, tu chiu trach nhiém cho don vi SNCL. Bản về thực trạng quản ly tài chính ở các đơn vi sự nghiệp công lập, có thê ké ra một số công trình nghiên cứu đã công bố về lĩnh vực này như sau: *Nguyễn Tan Lượng (2011), “Hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường đại học công lập tự chủ tài chính trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh ” Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường đại học Kinh tế TP.
Luận van của tác giả trình bay rõ ràng những van đề lý luận cơ bản về quản lý tài chính tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP. Những kết quả nghiên cứu của luận văn đã góp phan bồ sung và hệ thống hóa các vấn đề về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cơ chế quan lý tai chính tại các trường đại học công lập. Luận văn đã đưa ra chi tiết các công cụ quản lý tài chính tại các trường đại học công lập. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn đồng thời đưa ra những giải pháp nham góp phan nâng cao hiệu qua trong việc quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP.
Bên cạnh đó, dù ở TP.HCM bao gồm rất nhiều trường đại học công lập nhưng tác giả mới chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu một số trường đại học công lập điển hình trên địa bàn TP.HCM thực hiện tự chủ tài chính một phần hay toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên. *Nguyễn Thị Kim Anh (2012) “Quản lý tài chính trường cao dang lương thực thực phẩm Đà Nẵng ”, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Đà Nẵng. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về các nguồn tài chính và quản lý tài chính ở các trường đại học, cao đăng công lập trong điều kiện hiện nay, qua đó đã khang định vai trò của tai chính giáo dục, trong đó nguồn NSNN giữ vai trò quan trọng và quyết định. Thông qua phân tích, đánh giá thực trạng các nguôn tài chính và hoạt động quản lý tài chính của trường cao đăng lương thực thực phẩm Đà Nẵng, một mặt luận văn đã chỉ ra được tài chính thực sự là công cụ hữu hiệu và là động lực kinh tế quan trọng để Trường hoàn thành nhiệm vụ to lớn mà Đảng và Nhà nước giao phó, tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh than cho cán bộ giảng viên, qua đó tạo động lực dé nang cao hiệu quả giảng day và nghiên cứu.
Mặt khác qua những yêu cau, đòi hỏi bức xúc từ thực tiễn đặt ra luận văn đã chỉ ra tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện đa dạng hóa các nguồn tài chính, quản lý và sử dụng tài chính có hiệu quả. Bên cạnh đó, luận văn còn những ton tại những hạn chế như số liệu chưa được cập nhật kip thời. s*Nguyễn Thị Hương (2015) “Quản lý tài chính tại Dai học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh đổi mới quản lý tài chính giáo dục đại học ”, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Khoa học xã hội. Luận án cho thấy trong thời gian qua ĐHQGHN đã từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý, từ công tác lập kế hoạch đến phân bồ chỉ tiêu cho các hoạt động đào tạo và nghiên cứu, phân cấp quản lý, .Tuy nhiên, việc quản lý tài chính vẫn còn bộc lộ một số điểm yếu kém, bất cập như nguồn thu hạn chế, phân bé tài chính chưa khuyến khích nâng cao chất lượng dao tạo, cơ cau chi chưa thật hợp lý, năng lực đội ngũ cán bộ và công tác kế hoạch tài chính hạch toán kế toán chưa đáp ứng yêu cầu.Những bất cập đó có nguyên nhân bên trong là do cơ chế quản lý tài chính của ĐHQGHN, còn nguyên nhân gián tiếp bên ngoài xuất phát từ những bất cập chung trong công tác quản lý tài chính của các trường đại học công lập ở Việt Nam.
Từ việc phân tích những bất cập trên và nguyên nhân của chúng luận án đã đưa ra một số gợi ý về đổi mới cơ chế quản lý tài chính của ĐHQGHN, đề xuất những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của ĐHQGHN. Các công trình trên tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau và đã đề cập đên nhiêu khía cạnh vê hoàn thiện công tác quản lý tài chính tai đơn vi sự nghiệp công lập. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt về van đề quản lý tài chính tại Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội. Khái lược về đơn vị sự nghiệp công lập 1.
Khái niệm, đặc điểm và phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khải niệm Đơn vị sự nghiệp công lập (SNCL) là tổ chức do cơ quan có thâm quyền của Nhà nước, tô chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vu quản lý nhà nước (Nguồn: điêu 9, Luật viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010). Đặc điểm Một là, đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị cung cấp các dịch vụ công, hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Việc cung ứng các hàng hóa này cho thị trường chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhà nước tô chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động này dé cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp vào thị trường. Sản pham của các đơn vi SNCL sẽ hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo nguồn nhân lực, thúc đây hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, sức khỏe, văn hóa, tinh thần của nhân dan. Hai là, sản phẩm của các đơn vi sự nghiệp là các san phẩm mang lại lợi ích chung có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và gia trị tinh thần của xã hội. San phẩm, dịch vụ của đơn vi sự nghiệp chủ yêu là các giá tri vê tri thức, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, chăm sóc sức khỏe,.
có tính phục vụ không chỉ cho một ngành, một lĩnh vực nhất định mà kho tiêu thụ sản phẩm đó thường có tác dụng lan tỏa, truyền tiếp, tác động đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sản pham đó là “hàng hóa công cộng” hoặc hàng hóa tư thiết yéu mà khu vực công phải cung cấp có tác động về trí và lực của con người, đến toàn bộ đời sống của con người cũng như đến quá trình tái sản xuất xã hội. Ba là, hoạt động các đơn vi sự nghiệp công lập luôn gan lién va bi chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của Nha nước. Với chức năng của mình, Chính phủ luôn tô chức, duy trì và đảm bảo hoạt động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội.
Để thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, Chính phủ tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như : Chương trình mục tiêu Quốc gia việc làm và dạy nghề, Chương trình xóa mù chữ, Chương trình day nghề cho lao động nông thôn, Chương trình xóa đói giảm nghèo. Những chương trình mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nước, với vai trò của mình mới có thé thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả. Đề thực hiện các chương trình trên, các đơn vị SNCL được sử dụng như những công cụ, nhằm cung ứng cho xã hội những dịch vụ công phù hợp với mục tiêu của chương trình. Phân loại các đơn vị sự nghiệp công lap Đề quản lý tốt các hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập cũng như quản lý được quá trình phát triển của các loại hình dịch vụ này, phục vụ tốt cho hoạt động của nền kinh tế quốc dân, cần phải xác định các đơn vị sự nghiệp công lập tùy thuộc vào lĩnh vực hoạt động hay khả năng đảm bảo nguồn kinh phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị.
* Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, các đơn vị sự nghiệp công lập bao gom: - Don vi SNCL hoạt động trong lĩnh vực van hóa nghệ thuật.