CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ SINH HOẠT CHUYÊN MÔN CỦA NHÓM GIÁO VIÊN KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở CÁC TRƯỜNG 5 TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC TÍCH HỢP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về năng lực dạy học tích hợp và phát triển năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên Nhận thức rõ vai trò then chốt của phương pháp dạy học tích hợp trong đổi mới giáo dục phổ thông, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này ngày càng được chú trọng. Đáng chú ý là Hội nghị quốc tế về giảng dạy khoa học, do UNESCO bảo trợ, diễn ra tại Varna (Bulgaria, 1968).
Tại đây, hai vấn đề trọng tâm được đặt ra: cơ sở lý luận của việc tích hợp các môn học và bản chất của phương pháp dạy học tích hợp [ 33]. - Hội nghị phối hợp chương trình giảng dạy của UNESCO (Paris, 1972) đã trình bày và thống nhất tư tưởng về dạy học tích hợp giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau; bàn đến vấn đề đào tạo giáo viên để dạy học tích hợp các khoa học. Chương trình đào tạo tiên tiến áp dụng phương pháp tích hợp đa chiều: kiến thức lý thuyết và thực hành song hành, lồng ghép chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp xuyên suốt các môn học, đồng thời phát triển đa dạng kỹ năng [ 33]. - Đặng Thị Thuận An (2017), Phát triển năng lực dạy học tích hợp cho sinh viên sư phạm hóa học thông qua học phần phương pháp dạy hóa học phổ thông.
Tác giả đã chỉ rõ cấu trúc và khung năng lực dạy học tích hợp của sinh viên ngành hóa học và chỉ ra quy trình 5 bước để phát triển năng lực dạy học tích hợp của sinh viên. Ở đây thực chất tác giả đã nêu lên cách thức để hình thành và phát triển năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên tương lai [1]. - Nguyễn Thị Thanh Hiền (2020), Phát triển năng lực dạy học tích hợp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học thông qua rèn luyện nghiệp vụ sư phạm và Ngô Thị Nhung (2019), Phát triển năng lực dạy học tích hợp cho sinh viên đại học sư phạm kĩ thuật trong dạy học nghiệp vụ sư phạm theo tiếp cận Modul. Các tác giả trong nghiên cứu của mình đã trình bày rõ các vấn đề khái niệm, năng lực dạy 6 học tích hợp; quy trình và biện pháp phát triển năng lực dạy học tích hợp cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học và sư phạm kĩ thuật.
Tuy khác nhau về ngành đào tạo nhưng các tác giả đều khẳng định sinh viên cần phải có năng lực dạy học tích hợp mới hoàn thành được nhiệm vụ của người giáo viên trong tương lai [17]. Ngoài ra còn có nhiều bài báo và công trình nghiên cứu về năng lực dạy học tích hợp và bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên như: Chu Thị Hảo (2020), Thực trạng năng lực dạy học tích hợp của giáo viên trung học cơ sở tỉnh Phú Thọ theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông [12]; Trần Nam Thắng (2016), Bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên trung học cơ sở thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương [34]; Lê Thị Hiền (2015), Phát triển năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên [18], … Các nghiên cứu trên giúp tác giả luận văn hiểu thêm về năng lực dạy học tích hợp, bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên để từ đó định hướng cho đề tài luận văn: quản lí sinh hoạt chuyên môn của nhóm giáo viên khoa học tự nhiên theo hướng phát triển năng lực dạy học tích hợp. Các nghiên cứu về sinh hoạt chuyên môn và sinh hoạt chuyên môn của nhóm giáo viên theo hướng phát triển năng lực dạy học tích hợp Hoạt động giảng dạy tổ chức tốt giữ vai trò quan trọng đối với việc nâng cao năng lực giáo viên và hiệu quả dạy học. Nhiều công trình khoa học đã nói về vai trò nêu trên, điển hình như các công trình của Kathryn M.
Locke, Goodman, Catherine C. Lewis, Hollingsworth, và các nhà khoa học Việt Nam: Vũ Quốc Long, Trần Thị Hải Yến, Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Thuý Hằng, Ngô Thị Phương Thảo và Vũ Thị Sơn. Đặc biệt, nghiên cứu của Catherine C. Lewis (2008) về sự thích ứng thành công phương pháp giảng dạy tại Hoa Kỳ nhấn mạnh vai trò then chốt của đổi mới sinh hoạt chuyên môn trong các trường phổ thông, góp phần nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên.
Việc này trực tiếp tác động đến hiệu quả giảng dạy và chất lượng giáo dục [ 32]. Theo Vũ Thị Sơn (2011), đổi mới sinh hoạt chuyên môn, nhằm kiến tạo văn hóa trường học tích cực, đòi hỏi sự chuyển mình căn bản. Sinh hoạt chuyên môn 7 không chỉ là phương thức tự hoàn thiện, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên mà còn là công cụ quản lý, góp phần vun đắp môi trường sư phạm lành mạnh. Tuy nhiên, yếu tố then chốt quyết định chất lượng đó nằm ở tầm nhìn chiến lược và sự quản lý chặt chẽ của nhà trường.
Ban giám hiệu cần có kế hoạch tổ chức, giám sát thường xuyên, nhất quán mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục, đồng thời khơi dậy, thúc đẩy tinh thần tự học, tự rèn luyện của đội ngũ giáo viên. Thành công của quá trình này phụ thuộc vào quyết tâm, sự nỗ lực không ngừng của toàn thể cán bộ, giáo viên nhà trường trong việc hiện thực hóa mục tiêu đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy [29]. Nghiên cứu của Nguyễn Mậu Đức và Hoàng Thị Chiên (2012) khảo sát việc đổi mới hoạt động chuyên môn nhằm kiến tạo văn hóa học tập trong nhà trường thông qua nghiên cứu bài học. Nội dung và hình thức sinh hoạt chuyên môn được tân trang, hướng tới văn hóa học tập tích cực, khuyến khích tinh thần tự học hỏi, nhất là thông qua nghiên cứu bài học[8].
Nghiên cứu học thuật đã minh chứng vai trò thiết yếu của hoạt động chuyên môn giáo dục phổ thông. Hoạt động hiệu quả ấy tăng cường chất lượng giáo dục, kiến tạo môi trường học tập lý tưởng. Các nghiên cứu về quản lý hoạt động tổ chuyên môn và quản lý sinh hoạt chuyên môn của nhóm giáo viên theo hướng phát triển năng lực dạy học tích hợp Vai trò then chốt của tổ chuyên môn trong hệ thống giáo dục phổ thông là không thể phủ nhận, tác động trực tiếp đến hiệu quả giảng dạy. Quản lý hoạt động của tổ chuyên môn đã và đang là đề tài nghiên cứu trọng tâm của nhiều nhà học thuật.
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu đáng chú ý, chẳng hạn như: Công trình của tiến sĩ Trương Thị Bích Thành (2015) về mô hình quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại Trường Trung học cơ sở Trần Hưng Đạo, Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Nghiên cứu này đã đề xuất phương pháp quản lý tối ưu, kết hợp việc xây dựng kế hoạch, quy chế chuyên môn định hướng nghiên cứu bài học với công tác giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện của các tổ chuyên môn. Nghiên cứu của Hoàng Hữu Toản (2021) về quản trị hoạt động tổ chuyên môn tại trường THCS Bình Minh, Khoái Châu, Hưng Yên, dựa trên phương pháp 8 nghiên cứu bài học, đã phân tích hệ thống lý luận và thực tiễn. Dữ liệu thu thập từ 27 ý kiến của đội ngũ quản lý và giáo viên trường này chỉ ra những giải pháp tối ưu.
Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động tổ chuyên môn đáng chú ý gồm: công trình của Vũ Diệu (2000) với đề tài "Tổ chức quản lí hoạt động sư phạm của tổ chuyên môn" ([6]); và công trình của Ngô Thị Phương Thảo (2015), "Quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong bối cảnh đổi mới giáo dục," trình bày tại Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc gia, Hà Nội. Những nghiên cứu này đã góp phần làm sáng tỏ vấn đề [32], … 1. Nhận xét các công trình đi trước và xác định nội dung nghiên cứu của luận văn a) Nhận xét Công trình nghiên cứu về hoạt động chuyên môn, đặc biệt sinh hoạt chuyên môn của tổ nhóm giáo viên, đã được khai triển rộng rãi trong lĩnh vực giáo dục học, hướng tới mục tiêu tối ưu hóa hiệu quả hoạt động này. Về quản lý giáo dục, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành về hoạt động tổ chuyên môn, đa dạng về phương pháp tiếp cận, như nghiên cứu bài học, phát triển năng lực tổng quát.
Ngược lại, việc quản lý sinh hoạt chuyên môn của nhóm giáo viên Khoa học tự nhiên, đặc biệt theo hướng phát triển năng lực giảng dạy tích hợp tại các trường THCS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, vẫn còn thiếu sót. b) Xác định nội dung nghiên cứu của luận văn Nghiên cứu lý luận quản trị hoạt động chuyên môn nhóm giáo viên THCS, hướng tới bồi dưỡng năng lực giảng dạy tích hợp. Đề xuất và khảo nghiệm về biện pháp quản lý sinh hoạt chuyên môn của nhóm giáo viên ở các trường THCS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La theo hướng phát triển năng lực dạy học tích hợp. Nghiên cứu này tập trung phân tích quản lý hoạt động chuyên môn của giáo viên trung học cơ sở, đặc biệt là phương pháp phát triển năng lực giảng dạy tích hợp.
Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định các cải tiến nhằm tối ưu hóa hoạt động chuyên môn, góp phần nâng cao năng lực sư phạm tích hợp, đặc biệt cho giáo 9 viên Khoa học tự nhiên. Qua đó, chất lượng giảng dạy được nâng cao đáng kể, hiệu quả công tác được thúc đẩy bền vững. Năng lực dạy học tích hợp và yêu cầu đặt ra đối với sinh hoạt chuyên môn và quản lý sinh hoạt chuyên môn của nhóm giáo viên 1. Dạy học và dạy học tích hợp a) Khái niệm dạy học: Dựa trên quan điểm của các chuyên gia giáo dục như Đặng Quốc Bảo, Đặng Vũ Hoạt, Trần Kiểm, Thái Duy Tuyên và nhiều người khác, quá trình dạy và học được định nghĩa là sự tương tác giữa giáo viên điều phối và học sinh tự chủ.
Học sinh tích cực, chủ động tham gia, tự điều chỉnh quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo nhằm hoàn thành mục tiêu học tập đã đề ra. b) Khái niệm tích hợp và tích hợp trong dạy học: Khái niệm tích hợp, theo Tự điển Giáo dục học (2000), hàm ý sự liên kết chặt chẽ các yếu tố nghiên cứu, giảng dạy và học tập thuộc cùng một hoặc đa lĩnh vực, được tổng hợp trong kế hoạch đào tạo thống nhất [13].