chương 1 cũng tổng hợp kinh nghiệm QLRR trong hoạt động kinh doanh thẻ tại một số nước từ đó rút ra bài học kinh nghiệm đối với các NHTM Việt Nam. Hoạt động kinh doanh thẻ của NHTM 1. Những vấn đề cơ bản về thẻ ngân hàng 1. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển thẻ ngân hàng Lịch sử ra đời của thẻ được ghi nhận sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933.
Để thực hiện kích cầu, khuyến khích tiêu dùng, góp phần khắc phục ảnh hưởng của cuộc đại khủng hoảng này, các nước phát triển đã đưa ra mô hình tài trợ tiêu dùng bán chịu. Do vậy, cần có một công cụ tín dụng sử dụng linh hoạt để thanh toán tại các điểm bán hàng và đây là điều kiện thúc đẩy các tổ chức kinh tế tài chính vào cuộc, trong đó phải kể đến ngân hàng, từ đó thẻ ngân hàng ra đời. Dạng đầu tiên của thẻ ngân hàng ra đời vào năm 1945. Đó là Charge – It của Ngân hàng John Biggins (Mỹ), cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch nội địa bằng các phiếu có giá trị do ngân hàng phát hành.
Sau đó, các đại lý nộp lại những phiếu này cho Ngân hàng Biggins, ngân hàng thu tiền từ khách hàng và thanh toán cho đại lý. Đây chính là tiền đề cho việc phát hành thẻ tín dụng đầu tiên của Ngân hàng Franklin National vào năm 1951. Năm 1966, 14 ngân hàng lớn của Mỹ thành lập Hiệp hội thẻ liên ngân hàng quốc tế (Interbank Card Association – ICA) và cho ra đời thẻ Master Charge. z 6 Tổ chức thẻ (TCT) Visa hình thành và phát triển nhưng không trực tiếp phát hành thẻ mà giao lại cho các thành viên, đã nhanh chóng mở rộng thị trường.
Năm 1979, Master Charge đổi tên thành Master Card và trở thành TCT quốc tế lớn thứ 2 trên thế giới, sau Visa, góp phần đưa thị trường thẻ ngân hàng ngày càng phát triển trên toàn cầu. Sau Mỹ, ở các nước Châu Âu và tiếp sau là Châu Á, đặc biệt là Nhật Bản, thẻ thanh toán được sử dụng rộng rãi với chất lượng ngày càng cao. Khái niệm thẻ ngân hàng Theo Citibank (một công ty con trong lĩnh vực tài chính của tập đoàn Citigroups), trong năm 1968 Citibank tự phát hành thẻ của riêng mình và đến những năm 70 Citibank là một trong những ngân hàng Mỹ đầu tiên giới thiệu Automated Teller Machine (ATM), cung cấp giao dịch cho 24 giờ truy cập vào tài khoản, lúc này Citibank cho rằng thẻ là “Thẻ tất cả mọi thứ” (Thẻ là một phương tiện theo đó ngân hàng tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng tiền của mình bất cứ lúc nào để chi trả cho chi tiêu của mình). Đến thời kỳ 1977 – 1987 Citibank đã tạo ra một thương hiệu thẻ tín dụng riêng biệt gọi thẻ là “thẻ lựa chọn”, lúc này khái niệm thẻ được điều chỉnh lại, thẻ là một phương tiện theo đó ngân hàng tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng thẻ lựa chọn của mình bất cứ lúc nào để chi trả cho chi tiêu của mình.
Tại Singapore, tập đoàn Ngân hàng UOB thành lập năm 1935 với tên gọi United Chinese Bank, đến năm 1965, đổi tên thành United Overseas Bank. UOB cho rằng thẻ là phương tiện giữ tiền, thanh toán do ngân hàng phát hành cung cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền mua hàng, dịch vụ, rút tiền mặt. hoặc thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận. Tại Việt Nam, theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 của NHNN, thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận.
Khái niệm tổng quát về thẻ ngân hàng: Thẻ ngân hàng là một phương tiện do ngân hàng phát hành thẻ (NHPH) dùng để lưu trữ giá trị của người sử dụng thẻ để z 7 thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ tại các ĐVCNT hoặc dùng để rút tiền mặt tại các điểm giao dịch trực tiếp hay gián tiếp qua máy ATM. Đặc tính và mô tả kỹ thuật thẻ ngân hàng Đặc tính - Thẻ ngân hàng là phương tiện chứa đựng giá trị, phát triển gắn liền với việc ứng dụng CNTT trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. - Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. - Thẻ ngân hàng là công cụ dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại ĐVCNT hoặc rút tiền mặt tại các máy ATM hay các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư tiền gửi của khách hàng hoặc hạn mức tín dụng được ngân hàng cấp.
- Thẻ ngân hàng còn dùng để thực hiện các tiện ích khác thông qua máy ATM như kiểm tra thông tin tài khoản, chuyển tiền, thanh toán tiền điện, bảo hiểm,. Mô tả kỹ thuật Cấu tạo thẻ ngân hàng là một trong những vấn đề đặt ra trong QLRR hoạt động kinh doanh thẻ vì những ký hiệu và hình thức của mỗi loại thẻ vừa là hình thức nhận dạng của mỗi tổ chức phát hành thẻ, vừa dùng để chống giả mạo. Thẻ ngân hàng thường được cấu tạo bằng nhựa cứng (plastic) theo chuẩn quốc tế: hình chữ nhật kích cỡ 96mm x 54mm x 0,76mm, gồm 2 mặt: Mặt trước thẻ gồm những thông tin sau: biểu tượng và tên tổ chức phát hành thẻ, thương hiệu của TCT quốc tế và ký tự an ninh trên thẻ (đối với thẻ quốc tế), chip điện tử (đối với thẻ thông minh), số thẻ được dập nổi trên thẻ và thể hiện trên hóa đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ, thời gian hiệu lực của thẻ, họ và tên chủ thẻ. Ngoài ra, đối với thẻ quốc tế còn có thể có một số yếu tố khác theo quy định của TCT quốc tế mà các thành viên tham gia phải thực hiện vì mỗi loại thẻ có một biểu tượng riêng mang tính đặc trưng của TCT quốc tế nhằm chống lại sự giả mạo như thẻ Visa có biểu tượng hình chim bồ câu đang bay in chìm trên mặt trước thẻ.
Mặt sau thẻ gồm có dải băng từ (lưu trữ các thông tin như: số thẻ, thời gian hiệu lực của thẻ, họ và tên chủ thẻ, NHPH, mã PIN) và dải băng chữ ký. Phân loại thẻ ngân hàng Theo công nghệ sản xuất Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card): là loại thẻ sơ khai ban đầu, được làm bằng nhựa dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi trên thẻ. Công nghệ này hiện nay hầu như không được sử dụng vì kỹ thuật thô sơ, tính bảo mật kém, dễ bị lợi dụng làm giả. Thẻ từ (Magnetic Stripe): là loại thẻ có dải băng từ ở mặt sau thẻ chứa đựng các thông tin cần thiết liên quan đến thẻ và chủ thẻ đã được mã hóa.
Loại thẻ này hiện được sử dụng phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, đến nay thẻ từ cũng bộc lộ những nhược điểm của nó như số lượng các thông tin được mã hóa không nhiều, các thông tin mang tính cố định. Kỹ thuật này hiện nay cũng đã lạc hậu, do vậy tính bảo mật của thẻ từ cũng thấp và dễ bị đánh cắp các thông tin để làm giả thẻ dẫn đến rủi ro cho chủ thẻ, cho ngân hàng, cho các ĐVCNT và cho nền kinh tế. Thẻ thông minh (Smart Card – thẻ Chip): là loại thẻ dựa trên công nghệ, kỹ thuật vi xử lý nhờ gắn một chip điện tử theo nguyên tắc xử lý như một máy tính nhỏ thay cho băng từ.
Loại thẻ này hiện đang được các NHPH sử dụng để cung cấp cho khách hàng vì nó khắc phục nhiều nhược điểm của thẻ từ, đảm bảo tính an toàn cao. Theo tính chất thanh toán thẻ hay nguồn tài chính đảm bảo sử dụng thẻ Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ được chi tiêu trước trong phạm vi hạn mức tín dụng được ngân hàng cấp tại ĐVCNT hay rút tiền trong thời hạn hiệu lực của thẻ, sau đó mới trả tiền lại cho NHPH. Chủ thẻ phải thanh toán ít nhất mức trả nợ tối thiểu khi đến hạn thanh toán quy định. Đối với các giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ: nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ dư nợ cuối kỳ trong khoảng thời gian quy định thì chủ thẻ sẽ được miễn lãi cho toàn bộ giao dịch thanh toán phát sinh trong kỳ đó; nếu không thì chủ thẻ phải trả phí và lãi cho ngân hàng theo quy định.
Khi khách hàng đóng tiền vào thẻ, hạn mức tín dụng được khôi phục lại. Thẻ tín dụng là công cụ cho vay tiêu dùng của NHPH cấp cho chủ thẻ. Thẻ ghi nợ (Debit Card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ sử dụng số dư tài khoản của mình tại các ĐVCNT hoặc thực hiện các giao dịch tại ATM. Mức chi tiêu của chủ thẻ nằm trong phạm vi số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ, z 9 ngân hàng chỉ là người cung và thu phí dịch vụ.
Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho chủ thẻ trong giao dịch, NHPH có thể cho phép chủ thẻ chi tiêu hoặc rút tiền vượt quá số dư trong một khoảng thời gian nhất định, hình thức này gọi là thấu chi. Thẻ trả trước (Prepaid Card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ tương ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ. Chủ thẻ trả trước không nhất thiết phải có quan hệ tài khoản với ngân hàng. Thẻ trả trước bao gồm thẻ trả trước xác định danh tính (thẻ trả trước định danh) và thẻ trả trước không xác định danh tính (thẻ trả trước vô danh).
Thẻ trả trước có thể sử dụng dưới hình thức thẻ quà tặng, thẻ chuyển tiền, thẻ thanh toán phúc lợi xã hội và thẻ thanh toán du lịch. Theo phạm vi lãnh thổ sử dụng của thẻ Thẻ nội địa: là loại thẻ được NHPH trong một quốc gia phát hành và thẻ đó chỉ được sử dụng thanh toán các khoản tiền mua hàng hóa, dịch vụ hay rút tiền mặt trong phạm vi quốc gia đó và đồng tiền giao dịch là đồng bản tệ. Thẻ quốc tế: là loại thẻ được sử dụng thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ hay rút tiền mặt cả trong và ngoài nước. Để phát hành thẻ quốc tế, NHPH phải đăng ký và được chấp nhận làm thành viên của TCT quốc tế, tuân thủ chặt chẽ các quy định trong việc phát hành và thanh toán thẻ do TCT quốc tế đó ban hành.
Khái niệm và vai trò của hoạt động kinh doanh thẻ của NHTM 1.