phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu về quản lý rủi ro danh mục cho vay tại NHTM Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về quản lý rủi ro danh mục cho vay tại NHTM Chƣơng 3: Thực trạng quản lý rủi ro danh mục cho vay tại các NHTM Việt Nam Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý rủi ro danh mục cho vay tại các NHTM Việt Nam 11 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ RỦI RO DANH MỤC CHO VAY TẠI NHTM 1. Về cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro danh mục cho vay Về cơ cấu tổ chức tổ chức quản lý rủi ro danh mục cho vay, không có nhiều các nghiên cứu đề cập cụ thể tới phạm vi danh mục cho vay mà các nghiên cứu hiện có đƣa ra các nguyên tắc chung nhất về xây dựng mô hình tổ chức quản lý rủi ro tín dụng để đảm bảo hoạt động này đƣợc thực hiện hiệu quả tại NHTM. Dƣới đây là các nghiên cứu trong nƣớc và nƣớc ngoài tiêu biểu về cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro danh mục cho vay xét trên hai khía cạnh: mô hình tổ chức và nguyên tắc báo cáo thông tin giữa các bộ phận trong cơ cấu tổ chức. Nghiên cứu về mô hình tổ chức quản lý rủi ro danh mục cho vay Thứ nhất, trong nghiên cứu về quản lý rủi ro tín dụng tại các NHTM, Ghosh (2012) đã nhấn mạnh về việc cần có bộ phận riêng trong ngân hàng để quản lý rủi ro tín dụng, bên cạnh hai loại rủi ro trọng yếu khác là rủi ro thị trƣờng và rủi ro hoạt động, bởi tần suất xảy ra thƣờng xuyên và độ lớn của rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt.
Cơ cấu tổ chức mà tác giả đề xuất các NHTM cần thực hiện là cơ cấu quản lý rủi ro tín dụng tập trung (centralized organizational structure), bởi theo nghiên cứu này, mô hình trên đã phân tách đƣợc chức năng chấp nhận rủi ro (risk taking) với chức năng giám sát và kiểm soát rủi ro (risk monitoring and control). Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đƣa ra đánh giá về các ƣu điểm khác của mô hình này trong quản lý rủi ro tín dụng tại NHTM. Đây là nền tảng lý thuyết về mô hình quản lý rủi ro mang tính chuẩn mực, phù hợp với xu hƣớng quản trị ngân hàng hiện đại đƣợc tác giả của luận án đƣa vào nghiên cứu của mình. Tuy vậy, nghiên cứu trên cũng lƣu ý các NHTM cân nhắc tới các đặc điểm về quy mô, vị trí địa lý, các hoạt động kinh doanh, số lƣợng sản phẩm dịch vụ….để đƣa ra mô hình tổ chức quản lý rủi ro tín dụng phù hợp.
Thứ hai, một dạng mô hình quản lý rủi ro tín dụng nổi bật đƣợc nhiều nghiên cứu đƣa ra và đƣợc chứng minh có tính hiệu quả cao khi áp dụng trên thực tế tại các NHTM là mô hình “ba lớp phòng vệ”. Các hƣớng dẫn mang tính chuẩn mực 12 về mặt lý thuyết cho mô hình này có thể kể tới nhƣ IIA (2013), Basel (2015)5, Oliver Wyman (2015), PwC (2017). Mô hình quản lý rủi ro theo “ba lớp phòng vệ” đƣợc phát triển lần đầu tiên bởi Institute of Internal Auditors (IIA) vào năm 2013, sau đó trở thành chuẩn mực mang tính phổ biến nhất cho các tổ chức trong việc quy định các trách nhiệm về giám sát và quản lý rủi ro cho các bộ phận chức năng. Trong luận án này, tác giả kế thừa các luận cứ lý thuyết trên về nhiệm vụ và chức năng của các lớp phòng vệ để đƣa ra đánh giá thực trạng cũng nhƣ đề xuất giải pháp cho việc thực hiện hiệu quả mô hình này tại các NHTM.
Thứ ba, nghiên cứu của Nguyễn Đức Tú (2012) về quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam đã đƣa ra về mặt lý thuyết hai dạng mô hình phổ biến về cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro tín dụng tại NHTM là mô hình quản lý rủi ro tín dụng tập trung và mô hình quản lý rủi ro tín dụng phân tán. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng đƣa ra các nhân tố ảnh hƣởng đến lựa chọn mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại NHTM bao gồm: định hƣớng quản lý rủi ro tín dụng, quy mô ngân hàng, trình độ công nghệ và trình độ nhân lực. Tuy nhiên, nghiên cứu trên chƣa đƣa ra thực trạng việc áp dụng các mô hình quản lý rủi ro tín dụng này tại NHTM, đây là khía cạnh khác biệt về mục tiêu nghiên cứu tại luận án này với công trình trên. Dù vậy, luận án kế thừa các lý thuyết tại nghiên cứu này về đặc điểm cũng nhƣ ƣu, nhƣợc điểm của từng dạng mô hình để đƣa ra giải pháp phù hợp cho các NHTM Việt Nam.
Thứ tư, công trình khoa học của Lê Thị Huyền Diệu (2010) về luận cứ khoa học trong xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam. Đây đƣợc xem là nghiên cứu có tính toàn diện nhất về các nội dung liên quan tới mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại các NHTM cho đến hiện tại, bao gồm: khái niệm, phân loại mô hình, điều kiện áp dụng, kinh nghiệm quốc tế về ứng dụng các 5 Trong nghiên cứu này mô hình “bốn lớp phòng vệ” đƣợc đƣa ra, tuy vậy mô hình này nhấn mạnh vai trò về mối quan hệ giữa lớp phòng vệ thứ ba và thứ tƣ, tức vai trò của bộ phận giám sát và kiểm soát bên trong và bên ngoài NHTM. Với mục đích nghiên cứu về cơ cấu tổ chức bên trong NHTM về mặt quản lý rủi ro tín dụng, luận án tập trung vào mô hình “ba lớp phòng vệ”. 13 dạng mô hình, thực trạng ứng dụng các mô hình tại các NHTM Việt Nam qua khảo sát 40 ngân hàng trong hệ thống và các khuyến nghị, đề xuất trong triển khai các mô hình trên thực tiễn.
Theo nghiên cứu của tác giả này, mô hình quản lý rủi ro tín dụng tập trung là phù hợp và ƣu việt nhất trong quản lý rủi ro tín dụng trên phạm vi toàn ngân hàng nhằm đảm bảo việc thực thi các chính sách về quản lý rủi ro tín dụng đƣợc toàn diện, lâu dài và có tính cạnh tranh. Tuy nhiên, tác giả cũng đƣa ra các điều kiện để có thể thực hiện có hiệu quả mô hình quản lý rủi ro tín dụng tập trung này tại các NHTM Việt Nam nhƣ điều kiện về công nghệ thông tin, nhân lực, nguồn vốn, phân định trách nhiệm trong hệ thống quản trị. Nhƣ vậy, đây là nghiên cứu phù hợp với các lý thuyết trƣớc đó về tính ƣu việt của mô hình quản lý rủi ro tín dụng tập trung trong nâng cao tính hiệu quả của công tác quản lý rủi ro tín dụng. Do đó, luận án vận dụng nghiên cứu thực tiễn này để làm cơ sở xác định mô hình chuẩn mực về quản lý rủi ro danh mục cho vay, từ đó đƣa ra đánh giá về thực trạng và đề xuất giải pháp cần thiết đối với các NHTM Việt Nam.
Thứ năm, nghiên cứu của Việt Dũng (2007) về các dạng mô hình tổ chức quản lý rủi ro trong ngân hàng. Nghiên cứu này tập trung phân tích về sự cân bằng giữa vai trò và trách nhiệm quản lý rủi ro ở cấp Hội sở chính và của các đơn vị quản lý rủi ro nằm bên trong chi nhánh đối với rủi ro tín dụng và rủi ro thị trƣờng. Kết quả nghiên cứu đƣa ra kết luận tổng thể rằng không có một dạng mô hình tổ chức quản lý rủi ro tín dụng duy nhất nào là phù hợp cho tất cả các NHTM mà dạng mô hình cần đƣợc điều chỉnh thận trọng và phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của ngân hàng. Tuy vậy nhƣng nguyên tắc cơ bản trong việc thiết kế mô hình cần tuân thủ là: (i) đơn vị quản lý rủi ro phải độc lập với đơn vị chấp nhận rủi ro, (ii) Hội đồng quản lý rủi ro/Khối quản lý rủi ro cần đƣợc Ban điều hành uỷ quyền quản lý và kiểm soát về rủi ro tín dụng.
Bên cạnh đó, tác giả này nhấn mạnh việc thành lập các mô hình tổ chức quản lý rủi ro và kiểm soát ở cấp hội sở chính, bên cạnh việc theo dõi và kiểm soát rủi ro ở các đơn vị kinh doanh. Tuy nhiên, cấp hội sở chính chú trọng về kiểm soát rủi ro tín dụng về những vấn 14 đề chiến lƣợc, trong khi cấp đơn vị kinh doanh kiểm soát rủi ro tín dụng trong hoạt động tác nghiệp cho vay hàng ngày. Nhƣ vậy, nghiên cứu này đƣa ra gợi ý về việc thiết kế và vận dụng các hình thức cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro tín dụng phù hợp với thực tế đa dạng trong hoạt động cho vay của các NHTM, đây là cơ sở lí luận để tác giả luận án đƣa ra các đánh giá về thực trạng và xây dựng nhóm giải pháp về cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro danh mục cho vay tại các NHTM Việt Nam. Nghiên cứu về nguyên tắc báo cáo thông tin giữa các bộ phận trong cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro danh mục cho vay Thứ nhất, Ghosh (2012) trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra nguyên tắc thiết kế luồng báo cáo sao cho phân tách giữa các báo cáo về quản lý kinh doanh với các báo cáo về quản lý rủi ro.
Bên cạnh đó, theo tác giả này, NHTM nên đƣa ra các quy định rõ ràng về nhiệm vụ của từng bộ phận tham gia hoạt động tác nghiệp và hoạt động quản lý rủi ro để tránh chồng chéo và mâu thuẫn về lợi ích của các bộ phận này. Ngoài ra, nghiên cứu thực nghiệm của nhóm tác giả Vincent, Gabriele và Markus (2012) về ảnh hƣởng của quy trình báo cáo tới hiệu quả của quản lý rủi ro trong đó có rủi ro tín dụng tại các NHTM đã chỉ ra, tại các NHTM mà Giám đốc khối quản lý rủi ro (CRO) báo cáo trực tiếp tới Hội đồng quản trị (BOD) thể hiện tính hiệu quả hơn trong quản lý rủi ro, đặc biệt là trong các giai đoạn có khủng hoảng về hoạt động tín dụng, so với các mô hình CRO báo cáo trực tiếp tới Tổng giám đốc (CEO) của ngân hàng. Kết quả này phù hợp với lí giải về mặt lý thuyết rằng thƣờng xuyên xuất hiện sự mâu thuẫn về lợi ích giữa CEO và CRO của ngân hàng.