đặt vấn đề cấp thiết: cần phải đánh giá đúng thực trạng, phù hợp và sát với từng đối tượng học sinh. Đặc biệt ở tỉnh Bình Dương chưa có công trình nghiên cứu về vấn đề này. Vì vậy tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường trung học phổ thông tỉnh Bình Dương”, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động phối hợp này của hiệu trưởng. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được qui luật, vận động theo qui luật và sẽ đạt được những thành công to lớn. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quản lý: 14 - Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam năm 1998, quản lý được định nghĩa là: tổ chức, điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.[37] - Quản lý giáo dục được hiểu là một hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.[18] - Theo Harold Koolz: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó là hiểu được rằng học đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.Marx: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[4] - Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt nói: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định.
Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”.[27] - Theo Bùi Minh Hiển: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [12] Với những định nghĩa trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau: - Muốn quản lý thành công, trước tiên cần phải xác định rõ chủ thể, đối tượng và khách thể quản lý. 15 - Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người. - Quản lý là sự tác động, mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với qui luật khách quan. - Chủ thể có thể là một người, một nhóm người; còn đối tượng có thể là con người hoặc nhiều người, giới vô sinh hoặc giới sinh vật.
- Quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành thành tựu của xã hội Từ những ý chung của các định nghĩa, ta hiểu theo nghĩa chung nhất là: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong một tổ chức để vận hành tổ chức nhằm đạt mục đích nhất định”.Hoạt động Hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội.[37] Hoạt động giữa nhà trường và gia đình là những việc làm có sự thống nhất chung và mối liên kết chặt chẽ, bổ sung cho nhau nhằm thực hiện tốt công tác giáo dục. Phối hợp Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam năm 1998, phối hợp là cùng hành động hoặc hoạt động hỗ trợ lẫn nhau.[37] Sự phối hợp giữa nhà trường và cha mẹ học sinh được hiểu là các thầy cô trong trường và cha mẹ học sinh có sự hợp tác, cùng thống nhất hành động và hỗ trợ nhau thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh. Công tác phối hợp giữa nhà trường và cha mẹ học sinh xét trong đề tài này được giới hạn là nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục học sinh. Chủ thể phối hợp là hiệu trưởng (phạm vi toàn trường), giáo viên chủ nhiệm (từng lớp) và cha mẹ học sinh (kể cả tổ chức Ban đại diện cha mẹ học sinh).
Quản lý hoạt động phối hợp Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường với cha mẹ học sinh là một trong những nội dung quản lý nhà trường của nhà quản lý, đó là những tác động có ý thức của nhà quản lý nhằm định hướng, tổ chức, điều khiển và kiểm tra quá trình phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh đúng với nguyên lý giáo dục, phương pháp giáo dục, đảm bảo nguyên tắc quản lý về giáo dục làm cho chất lượng giáo dục ngày càng nâng cao. Đó là hoạt động lập kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các hoạt động, kiểm tra đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường với cha mẹ học trong công tác giáo dục học sinh. Các yếu tố liên quan đến hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh 1. Nhà trường THPT trong công tác giáo dục học sinh 1.
Các đặc điểm của giáo dục nhà trường Để thực hiện mục tiêu giáo dục đã xác định, nhà trường cần thực hiện các nhiệm vụ giáo dục cụ thể chứa đựng những nội dung giáo dục toàn diện nhằm phát triển toàn diện nhân cách học sinh: - Giáo dục đạo đức: tổ chức và hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu về những giá trị của đạo đức để từ đó có thể làm xuất hiện thái độ đồng tình, chấp nhận thực hiện các yêu cầu của chuẩn mực đạo đức trong các mối quan hệ. Giáo dục lòng yêu nước cho học sinh trước hết là giáo dục lòng yêu quê hương, giáo dục tình cảm gắn bó với ông bà, cha mẹ, anh em và những người xung quanh; hình thành ý thức, thái độ, tình cảm tích cực đối với truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc. Giáo dục cho học sinh thái độ đối với cộng đồng, hình thành cách sống mình vì mọi người, kết hợp hài hòa giữa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân. Hình thành cho học sinh quan niệm đúng đắn về tình bạn, 17 tình yêu, tình cảm gia đình, biết tự trọng, trung thực, giúp đỡ và sống bao dung với mọi người xung quanh.
- Giáo dục trí tuệ: tổ chức và hướng dẫn người học nắm vững hệ thống tri thức khoa học, phổ thông, cơ bản, hiện đại phù hợp với những yêu cầu của thực tiễn về tự nhiên, xã hội, con người. Rèn luyện cho học sinh kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực và phẩm chất trí tuệ, tư duy sáng tạo. Bồi dưỡng cho người học thế giới quan khoa học, những phẩm chất tốt đẹp của người công dân. - Giáo dục thẩm mỹ: giáo dục cho học sinh năng lực nhận thức và cảm thụ cái đẹp trong tự nhiên, cuộc sống, nghệ thuật cũng như vẻ đẹp chân chính ở mỗi con người.
Bồi dưỡng cho học sinh tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ đúng đắn trước cái đẹp, từ đó giáo dục học sinh thái độ đúng đắn khi nhận xét, đánh giá cái đẹp trong cuộc sống và nghệ thuật. - Giáo dục thể chất: tổ chức, điều khiển, hướng dẫn học sinh tìm hiểu hệ thống tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại về thể dục thể thao, vệ sinh, giữ gìn, chăm sóc, bảo vệ và phát triển sức khỏe. Rèn luyện cho học sinh những kỹ năng, kỹ xảo cơ bản về thể dục thể thao và các bài tập thể dục nhằm nâng cao thể lực. Giáo dục học sinh ý thức giữ gìn, rèn luyện sức khỏe cho bản thân qua đó giáo dục những phẩm chất nhân cách khác.
- Giáo dục lao động – hướng nghiệp: tổ chức cho học sinh tham gia vào các hoạt động lao động nhằm hình thành cho học sinh thái độ tích cực đối với lao động, yêu quí lao động, có kỹ năng lao động tập thể, kết hợp lao động trí óc và lao động chân tay…Hướng nghiệp nghề giúp cho học sinh trong việc lựa chọn và tự quyết định nghề nghiệp trong tương lai theo năng lực, hứng thú của bản thân và theo nhu cầu nhân lực của xã hội. Trong sự phát triển nguồn nhân lực cho đất nước Việt Nam đang đổi mới hiện nay, yêu cầu cấp bách là nâng cao chất lượng người lao động, đào 18 tạo nhân tài, đào tạo con người có nhân cách phù hợp với xã hội mới. Đó là nguồn lao động có học vấn, có kiến thức chuyên môn sâu và kiến thức đa ngành, có năng lực sáng tạo, sức khỏe và có những phẩm chất đạo đức như lòng nhân ái, sự đồng cảm với nhân loại, quan tâm đến lợi ích của cộng đồng, dân tộc, hài hòa lợi ích của cá nhân, gia đình. Để hình thành được những con người có phẩm chất cơ bản đó phải có sự phối hợp nhịp nhàng, hợp tác, đồng bộ và hỗ trợ cho nhau giữa ba môi trường giáo dục và gia đình, nhà trường và xã hội thành một quá trình thống nhất liên tục, tác động mạnh vào quá trình phát triển nhân cách của học sinh.
Quá trình hình thành và phát triển nhân cách của học sinh có sự tác động của nhà trường, của đoàn thể thanh thiếu niên nhi đồng, gia đình, các phương tiện thông tin đại chúng, nơi các em sinh sống… trong đó gia đình đóng vai trò quan trọng nhất. Sự phát triển giáo dục thể chất giúp học sinh có sức khỏe để hoạt động, phát huy khả năng lao động, sáng tạo. Học sinh có thể học tập, sinh hoạt thích nghi với các yêu cầu của xã hội. Sự phát triển về đạo đức, tình cảm, tâm lý, thấy được trách nhiệm của cá nhân đối với gia đình, trước hết là ông bà, cha mẹ và đối với xã hội, từ đó tạo cho học sinh niềm vui, hạnh phúc của mình và giữ gìn mối quan hệ giữa gia đình và xã hội.