Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ NÓI MẠCH LẠC CHO TRẺ 5 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON VÙNG DTTS 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Vấn đề ngôn ngữ đã được đề cập đến ngay từ thời cổ đại. Nhưng thời cổ đại người ta nghiên cứu ngôn ngữ không tách khỏi triết học và lôgíc học.
Các nhà triết học cổ đại đã coi ngôn ngữ như là một hình thức biểu hiện bề ngoài của các bên trong là "logos", tinh thần, trí tuệ của con người. Trong cuốn "Triết học DESCARTES” Descartes đã chỉ ra những đặc tính chủ yếu của ngôn ngữ và lấy đó làm tiêu chí phân biệt con người, khác với động vật. Ông đã nhấn mạnh tính chất của ngôn ngữ, cái tín hiệu duy nhất ấy chắc chắn là của một tư duy tiềm tàng trong cơ thể và kết luận rằng "Có thể lấy ngôn ngữ làm chỗ khác nhau thực sự giữa con người và con vật”. Chỉ đến giữa thế kỷ 19 khuynh hướng tâm lý học mới nảy sinh trong ngôn ngữ học.
Người đầu tiên sáng lập ra trường phái ngôn ngữ học tâm lý là Shteintal (1823 - 1899). Ông đã đưa ra học thuyết ngôn ngữ là sự hoạt động của cá nhân và sự phản ánh tâm lý dân tộc. Theo ông, ngôn ngữ học phải dựa vào tâm lý cá nhân trong khi nghiên cứu ngôn ngữ cá nhân, phải dựa vào tâm lý dân tộc trong khi nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc. Sau cách mạng tháng Mười Nga 1917, các nhà ngôn ngữ học, tâm lý học Xô Viết đã vận dụng quan điểm của Mac - Lênin vào hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ đó là: xem xét ngôn ngữ với tư cách là một hiện tượng xã hội.
Ngôn ngữ thể hiện các mối quan hệ giữa con người với con người được quy định bởi những điều kiện cụ thể của thời kỳ lịch sử nhất định. Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy và là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người. 6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ em là một trong những vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm như: I. Người đặt nền móng đầu tiên cho quá trình nghiên cứu ngôn ngữ cho trẻ em có hệ thống nhất là nhà giáo dục người Nga-Bà E Tikheeva (1867-1943) với tác phẩm “Phát triển ngôn ngữ mạch lạc trẻ em”, trong công trình nghiên cứu bà đã đề xuất một số phương pháp, hình thức phát triển ngôn ngữ cho trẻ trước tuổi đến trường có giá trị khoa học cao.
Nhà tâm lý học nổi tiếng người Nga L. Vưgôtxki trong cuốn “Tư duy và ngôn ngữ” đã lập luận rằng hoạt động tinh thần của con người chính là kết quả học tập mang tính xã hội chứ không phải hoạt động học tập mang tính cá nhân. Ông khẳng định rằng: “Ngôn ngữ chính là phương thức đầu tiên mà qua đó con người trao đổi các giá trị xã hội, L.Vưgôtxki coi ngôn ngữ là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển tư duy” [41, tr. Nhấn mạnh vai trò giao tiếp của ngôn ngữ, A.Lênôchiep lại cho rằng: “Sự phát triển lời nói (ngôn ngữ) của trẻ em trước hết là sự phát triển phương thức giao tiếp.
Đây là nội dung quan trọng, cần thiết trong quá trình giúp trẻ hoà nhập với xã hội loài người”[dẫn theo 29, tr. Trong cuốn “Phát triển ngôn ngữ mạch lạc” nhà giáo dục người Nga Usinxki đã nhận định: “Tiếng mẹ đẻ là cơ sở của mọi sự phát triển, là vốn quý của mọi tri thức”. Từ đó, ông cho rằng phải phát triển tiếng mẹ cho con người, đây là nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt là phát triển tiếng mẹ đẻ cho trẻ em dưới tuổi đến trường phổ thông [dẫn theo 20, tr. Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu khác của các nhà Giáo dục học, Tâm lý học Xô Viết đã đề cập đến vấn đề này.
Trong tác phẩm "Sự Phát triển ngôn ngữ mạch lạc của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo", tác giả Ph.Xôkhin và các 14 cộng sự đã tập trung nghiên cứu về quá trình Phát triển ngôn ngữ mạch lạc của trẻ, trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra các biện pháp khác nhau để Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ đạt hiệu quả cao nhất. Xô khin với tác phẩm "Phương pháp phát triển lời nói trẻ em", "Những cơ sở tâm lý, giáo 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dục của việc phát triển lời nói cho trẻ em".Borodis với công trình "Phương pháp phát triển tiếng cho trẻ em". Tất cả những công trình của các tác giả trên đều có những đóng góp to lớn trong việc chỉ ra tầm quan trọng và sự cần thiết phải quan tâm giáo dục và phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ ngay từ lứa tuổi Mầm non, và đã đưa ra những phương pháp khác nhau để Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.2 Những nghiên cứu trong nước Thấm nhuần tư tưởng của Chủ nghĩa Mác - Lênin và vấn đề dân tộc, ngay từ khi mới dành được được độc lập 1945, Đảng và Nhà nước ta đã ý thức rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc Miền núi nhằm đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Và thực hiện nhiệm vụ chung ấy, một trong những nhiệm vụ được đặt ra là phải phát triển nền văn hóa của đồng bào dân tộc, trong đó nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Bởi nước ta có trên 50 dân tộc anh em với trên 50 ngôn ngữ khác nhau. Với bức tranh toàn cảnh đó để các dân tộc giao tiếp được với nhau, Đảng và Nhà Nước ta đã xác nhận tiếng Việt có vai trò là công cụ giao tiếp, là công cụ phát triển xã hội của tất cả các dân tộc trong môi trường đa dân tộc như nước ta. Ngay sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, Bộ Quốc gia Giáo (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã có chỉ thị “ Từ nay tất cả các khoa học đều dạy bằng tiếng Việt” Đây là một chỉ thị sáng suốt hợp thời khi dành được chính quyền. Chính nhờ sớm xác định tiếng việt có một vị trí xứng đáng của mình trong một quốc gia đa dân tộc như nước ta mà nó đã tạo tiền đề vững chắc cho vị thế ngôn ngữ quốc gia của tiếng Việt.
Xuất phát từ đó ở Việt Nam vấn đề Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ em cũng được nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu. Tác giả Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị Việt, Nguyễn Kim Đức trong giáo trình “Phương pháp Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ em dưới 6 tuổi” đã xây dựng hệ thống phương pháp, bài tập thực hành tạo cơ sở cho việc Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ tốt nhất. 8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả Nguyễn Xuân Khoa lựa chọn sự Phát triển ngôn ngữ mạch lạc của trẻ mẫu giáo làm đối tượng nghiên cứu của mình, trong giáo trình “Phương pháp Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo” cũng đề xuất hệ thống phương pháp Phát triển ngôn ngữ mạch lạc (phương pháp trực quan, phương pháp dùng lời, phương pháp thực hành trò chơi). Ngôn ngữ của trẻ 5 tuổi là một điều kiện hết sức quan trọng để trẻ tiếp xúc với môi trường mới lạ ở phổ thông, giúp trẻ lĩnh hội được những kiến thức mang tính chất khoa học của các môn học ở phổ thông.
Vì vậy việc nghiên cứu vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ cả về vốn từ, ngữ âm, ngữ điệu, ngữ pháp và đặc biệt ngôn ngữ mạch lạc là rất cần thiết. Thông qua đó, chúng ta có thể giúp trẻ có sự phát triển ngôn ngữ một cách đầy đủ về các mặt, đó cũng là phương tiện cơ bản nhất, quan trọng nhất để trẻ tiếp thu tri thức không chỉ môn Tiếng Việt mà còn tất cả các môn học khác của chương trình lớp 1. Những nghiên cứu của tác giả trên là cơ sở lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu về quản lý phát triển ngôn ngữ mạch lạc nói mạch lạc cho trẻ 5 tuổi vùng dân tộc thiểu số. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm về quản lý Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý, các tác giả tiếp cận khái niệm quản lý trên nhiều phương diện khác nhau: Đối với F.Taylor “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và đều phải quản lý chặt chẽ”; ông cho rằng “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”[dẫn theo 10, tr. Lý luận chủ nghĩa Mác - Lê nin đã lý giải một cách đầy đủ hơn và phản ánh chính xác những nét đặc trưng cơ bản của hoạt động quản lý. Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, quản lý xã hội một cách khoa học “là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội, trên cơ sở vận dụng đúng đắn những quy 9 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com luật hay xu hướng khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra” [26, tr. Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” của Harold Koonl đã được dịch ra tiếng Việt của nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật Hà Nội, năm 1994 thì quản lý được hiểu: “là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực các nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm” [17, tr.
Với cách tiếp cận ấy, tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [31, tr. Từ các khái niệm trên, ta có thể hiểu: Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng sự khác nhau cùng chung một tổ chức; Quản lý là những tác động có mục đích lên những tập thể người, thành tố cơ bản của hệ thống xã hội; Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội. Quản lý ngày nay được coi là một trong năm nhân tố phát triển kinh tế, xã hội, bao gồm vốn, nguồn nhân lực, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và quản lý.