phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận các vấn đề nghiên cứu. - Chƣơng 2: Thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giảng viên Khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Trung Quốc (Trƣờng Đại học Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội). - Chƣơng 3: Những biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giảng viên Khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Trung Quốc (Trƣờng Đại học Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội) trong bối cảnh hiện nay. z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Thế kỷ XXI là thế kỷ khoa học, công nghệ sẽ tiếp tục phát triển nhƣ vũ bão, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hoá kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển kinh tế tri thức, cũng là thế kỷ mà vai trò của giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ có ý nghĩa quyết định hơn bao giờ hết đối với sự phát triển toàn diện của mỗi quốc gia. Nhận thức rõ điều đó, Đảng và Nhà nƣớc ta đã đƣa ra nhiều đƣờng lối, chính sách phát triển giáo dục, tăng cƣờng đầu tƣ cho giáo dục, xem đây là mũi nhọn quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH: “Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [10,108-109]. Trong hệ thống các đƣờng lối, chính sách phát triển giáo dục, đầu tƣ xây dựng và quản lý phát triển đội ngũ nhà giáo có vai trò hết sức quan trọng. Với vị trí, vai trò chủ đạo của mình, đội ngũ nhà giáo phải đƣợc thừa hƣởng tất cả những chính sách, ƣu tiên của Nhà nƣớc, phải đƣợc nghiên cứu đổi mới theo những thay đổi của nền giáo dục.
Trong những năm gần đây, nhiều đề án, giải pháp nhằm xây dựng và quản lý phát triển đội ngũ nhà giáo ở các cấp học, bậc học đã đƣợc nghiên cứu và áp dụng rộng rãi: - Đề án xây dựng và nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010 (QĐ số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11 tháng 1 năm 2005 của Thủ tướng chính phủ). - Đề án về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006- 2020 (Nghị quyết số 14/2004/NQ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ ). z - Bồi dƣỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới (Đề tài khoa học cấp nhà nước mã số KX07-14, năm 1996). Trong mảng đề tài nghiên cứu về xây dựng, quản lý phát triển đội ngũ giảng viên các trƣờng đại học, cao đẳng cũng đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu: nhu tác giả Nguyễn Thị Phƣơng Anh với nghiên cứu “Các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Sơn La trong giai đoạn mới”, tác giả Nguyễn Văn Tuấn với nghiên cứu “Một số biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ GV ở Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội”.
Các nhà quản lý, nhà giáo của Đại học Quốc Gia Hà Nội cũng có nhiều nghiên cứu xung quanh vấn đề quản lý nhân lực và quản lý đội ngũ giảng viên, nhƣ luận văn “Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt ở Trường ĐHNN - ĐHQGHN” của tác giả Nguyễn Xuân Uyên, luận văn “Thực trạng và một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý giảng viên trong Đại học Quốc Gia Hà Nội” của tác giả Phạm Văn Thuần, bài viết “Về đội ngũ nữ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu ở Đại học Quốc Gia Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Bảo Ngọc, bài viết “Vấn đề động viên đội ngũ giảng viên ngoại ngữ” của tác giả Trần Xuân Điệp, bài viết ”Giảng viên nữ trẻ Đại học Quốc gia Hà Nội” của tác giả Lê Thị Hồng Điệp. các công trình nghiên cứu này thực sự là những tài sản kiến thức quý báu góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhân lực nói chung và quản lý đội ngũ giảng viên nói riêng của các trƣờng đại học, cao đẳng. Cho đến nay, hầu nhƣ chƣa có công trình nào nghiên cứu về quy trình quản lý đội ngũ giảng viên của các trƣờng đại học, cao đẳng. Nhƣ vậy vấn đề xây dựng, quản lý phát triển ĐNGV có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của các trƣờng đại học, cao đẳng nói riêng và ngành giáo dục - đào tạo nói chung.
Trong báo cáo trƣớc Quốc hội của Bộ trƣởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân ngày 7 tháng 11 năm 2006 về đội nhũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề đã nhấn mạnh “ Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là những ngƣời trực tiếp thực hiện vì vậy giữ vai trò quyết định trực tiếp đến z chất lƣợng và sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân”. Tổ chức văn hoá giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) cũng đã khuyến cáo: Mọi cuộc cải cách giáo dục đều bắt đầu từ người giáo viên. Đề tài luận văn này nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý phát triển ĐNGV và một số khía cạnh về thực trạng đội ngũ giảng viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Trung Quốc (Trƣờng Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN). Trên cơ sở đó, đề xuất những biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giảng viên nhằm nâng cao chất lƣợng ĐNGV của Khoa và nâng cao chất lƣợng đào tạo của trƣờng.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài: 1. Quản lý a/ Một số quan niệm về quản lý Từ khi loài ngƣời xuất hiện, đã có sự phân công lao động đồng thời xuất hiện một dạng lao động có tính đặc thù - điều khiển các hoạt động lao động theo yêu cầu nhất định, theo một mục đích nhất định. Dạng lao động đặc thù ấy gọi là quản lý. Vậy quản lý là gì? C.Mác đã viết “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người đọc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. Nhƣ vậy, quản lý đƣợc xem nhƣ một quá trình liên kết thống nhất giữa chủ quan và khách quan để đạt đƣợc mục tiêu nào đó. Theo các cách tiếp cận khác nhau ta có: Quản lý là: cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra - theo góc độ tổ chức; theo góc độ điều khiển thì quản lý là lái, là điều khiển, điều chỉnh; theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay là đối tƣợng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con ngƣời trong quá trình sản xuất, lao động để đạt đƣợc mục đích đề ra. z Trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý, đã có nhiều quan niệm đƣợc đƣa ra : “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế,… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”.
“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường” [19, 43]. “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động” [27, 15]. “Quản lý” là từ Việt gốc Hán đã coi quản lý gồm hai quá trình tích hợp: quá trình “quản” là sự coi sóc, gìn giữ, duy trì ở trạng thái ổn định, quá trình ; “lý” là sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới nhằm phát triển [31,14]. Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, xuất phát từ các góc độ khác nhau cũng đã đƣa ra những khái niệm quản lý: Xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [3, 1].
Một xu hƣớng nghiên cứu phƣơng pháp luận quản lý ở Việt Nam trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý” của nhiều tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí. cho rằng: hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lƣợng mới [1, 176]. Các nhà lý luận quản lý quốc tế nhƣ: W. Taylor (1856-1951) ngƣời Mỹ: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”.
Fayol (1841-1925) ngƣời Pháp: “Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích”, cố gắng sử dụng tốt khái niệm nêu trên, ta có thể thấy rõ bốn yếu tố của quản lý: chủ thể quản lý, đối tƣợng bị quản lý (gọi tắt là đối tƣợng quản lý), khách thể quản lý và mục tiêu quản lý. Bốn yếu tố này tạo thành sơ đồ sau: Phƣơng pháp QL Chủ Đối thể tƣợng quản M quản lý lý Nội dung QL M : là mục tiêu quản lý Sơ đồ 1.1 : Sơ đồ khái niệm quản lý Trong thực tiễn, các yếu tố trên không tách rời nhau mà ngƣợc lại, chúng có quan hệ tƣơng tác gắn bó với nhau. Chủ thể quản lý tạo ra những tác nhân tác động lên đối tƣợng quản lý, nơi tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý và cùng với chủ thể quản lý hoạt động theo một quỹ đạo nhằm cùng thực hiện mục tiêu quản lý. Quản lý bao gồm hai thành phần: chủ thể quản lý và khách thể quản lý (đối tƣợng của quản lý), có quan hệ qua lại, tƣơng tác lẫn nhau.
“Ai quản lý” - đó là chủ thể quản lý.