Quản lý sản xuất báo chí đa phương tiện TTXVN ĐBSCL - Nguyễn Thanh Liêm

Nghiên cứu quản lý nội dung và quy trình sản xuất sản phẩm báo chí đa phương tiện tại các cơ quan thường trú Thông tấn xã Việt Nam ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Chuyên ngành

Quản lý báo chí - truyền thông

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

125
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý nội dung báo chí truyền thông đa phương tiện

Quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện tại các cơ quan thường trú Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là quá trình điều phối, kiểm soát và tối ưu hóa quy trình sáng tạo, biên tập, phân phối nội dung trên đa nền tảng. ĐBSCL có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội vùng, đòi hỏi hệ thống thông tin đa dạng, kịp thời. Việc quản lý hiệu quả giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu đa dạng của công chúng. Các sản phẩm bao gồm tin văn bản, ảnh, video, đồ họa, podcast, tương tác trực tuyến. Công nghệ số hóa và chuyển đổi số thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của báo chí đa phương tiện. Tại ĐBSCL, TTXVN đóng vai trò chủ lực trong cung cấp thông tin chính thống, phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý và người dân. Quản lý nội dung hiệu quả giúp tăng cường khả năng cạnh tranh, mở rộng phạm vi tiếp cận và nâng cao uy tín của cơ quan báo chí.

1.1. Khái niệm và vai trò của báo chí truyền thông đa phương tiện

Báo chí truyền thông đa phương tiện (Multimedia Journalism) là hình thức kết hợp các loại hình nội dung như văn bản, hình ảnh, âm thanh, video, đồ họa, tương tác để truyền tải thông tin một cách toàn diện. Tại TTXVN ĐBSCL, đa phương tiện giúp tăng cường tính sinh động, trực quan và hấp dẫn của sản phẩm. Nội dung đa phương tiện cho phép người dùng tiếp nhận thông tin qua nhiều giác quan, nâng cao hiệu quả truyền thông. Vai trò quan trọng của báo chí đa phương tiện trong bối cảnh hiện nay là cung cấp thông tin nhanh chóng, chính xác, đáp ứng nhu cầu đa dạng của công chúng. Tại ĐBSCL, nơi có nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội phát triển, nhu cầu về thông tin đa phương tiện càng trở nên cấp thiết.

1.2. Đặc điểm của quản lý nội dung tại cơ quan thường trú TTXVN

Quản lý nội dung tại cơ quan thường trú TTXVN ĐBSCL có đặc điểm là sự kết hợp giữa tính chuyên nghiệp của TTXVN với đặc thù vùng miền. Nội dung phải đảm bảo tính chính thống, kịp thời, phù hợp với nhu cầu của địa phương. Các sản phẩm báo chí đa phương tiện được sản xuất theo quy trình thống nhất từ khâu thu thập, biên tập, kiểm duyệt đến phân phối. Cơ quan thường trú phải phối hợp chặt chẽ với các đơn vị trung ương để đảm bảo tính nhất quán và chất lượng. Đặc biệt, quản lý nội dung phải thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và nhu cầu của công chúng. Tại ĐBSCL, quản lý nội dung còn phải chú trọng đến yếu tố ngôn ngữ, văn hóa địa phương để tăng cường tính gần gũi.

II. Thực trạng quản lý nội dung và sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện

Hiện nay, TTXVN ĐBSCL đang đối mặt với nhiều thách thức trong quản lý nội dung và sản xuất sản phẩm đa phương tiện. Việc thiếu đồng bộ trong quy trình sản xuất dẫn đến tình trạng chậm trễ trong cung cấp thông tin. Nhiều sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, tính thẩm mỹ và tính tương tác. Hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin chưa được đầu tư đầy đủ, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất. Đội ngũ phóng viên, biên tập viên còn thiếu kinh nghiệm trong sản xuất nội dung đa phương tiện. Sự cạnh tranh từ các phương tiện truyền thông khác khiến TTXVN gặp khó khăn trong việc giữ vững vị thế. Ngoài ra, nhu cầu đa dạng của công chúng đòi hỏi các sản phẩm phải linh hoạt, cập nhật thường xuyên. Tình trạng thiếu nguồn lực tài chính cũng hạn chế khả năng đầu tư vào công nghệ mới.

2.1. Những khó khăn trong quản lý nội dung

Một trong những khó khăn lớn nhất là thiếu sự thống nhất trong quy trình quản lý nội dung giữa các đơn vị. Việc phân quyền quản lý chưa rõ ràng dẫn đến tình trạng chồng chéo, thiếu phối hợp. Hệ thống quản lý nội dung (CMS) chưa được tối ưu hóa, gây ra tình trạng lưu trữ và truy xuất thông tin không hiệu quả. Nhiều sản phẩm báo chí đa phương tiện được sản xuất theo kinh nghiệm cá nhân, thiếu quy chuẩn chung. Sự thiếu hụt về nguồn nhân lực có chuyên môn sâu về đa phương tiện cũng là một thách thức lớn. Ngoài ra, sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ đòi hỏi cơ quan phải liên tục cập nhật, nâng cao năng lực.

2.2. Hạn chế trong sản xuất sản phẩm đa phương tiện

Sản xuất sản phẩm đa phương tiện tại TTXVN ĐBSCL còn gặp nhiều hạn chế về mặt kỹ thuật. Nhiều sản phẩm video, đồ họa chưa đạt chất lượng chuyên nghiệp do thiếu thiết bị hiện đại. Quy trình sản xuất chưa được số hóa hoàn toàn, dẫn đến tình trạng tốn thời gian và công sức. Đội ngũ phóng viên thường gặp khó khăn trong việc quay dựng, biên tập do thiếu đào tạo chuyên sâu. Sự thiếu hụt về ngân sách đầu tư vào công nghệ cũng là nguyên nhân chính. Ngoài ra, việc thiếu sự tương tác giữa các bộ phận sản xuất dẫn đến sản phẩm thiếu tính thống nhất. Nhiều sản phẩm chưa tối ưu hóa khả năng tiếp cận trên đa nền tảng.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nội dung và sản xuất sản phẩm

Để nâng cao hiệu quả quản lý nội dung và sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện, TTXVN ĐBSCL cần triển khai đồng bộ các giải pháp. Trước tiên, xây dựng hệ thống quản lý nội dung (CMS) chuyên nghiệp, tích hợp đa nền tảng. Đào tạo nâng cao năng lực cho phóng viên, biên tập viên về kỹ thuật sản xuất đa phương tiện. Áp dụng quy trình sản xuất thống nhất, đảm bảo tính chuyên nghiệp và kịp thời. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng công nghệ, nâng cấp thiết bị sản xuất hiện đại. Tăng cường hợp tác giữa các đơn vị trung ương và địa phương để chia sẻ nguồn lực. Xây dựng kế hoạch chuyển đổi số toàn diện, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong sản xuất nội dung. Ngoài ra, cần xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng sản phẩm thường xuyên. Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm tiên tiến.

3.1. Xây dựng hệ thống quản lý nội dung chuyên nghiệp

Hệ thống quản lý nội dung (CMS) đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa quy trình sản xuất. Tại TTXVN ĐBSCL, CMS cần tích hợp đa nền tảng để quản lý toàn bộ quy trình từ thu thập, biên tập, kiểm duyệt đến phân phối. Hệ thống phải có khả năng lưu trữ, truy xuất thông tin nhanh chóng, đảm bảo tính bảo mật. Việc áp dụng công nghệ blockchain có thể giúp xác thực nội dung, ngăn chặn tin giả. Ngoài ra, CMS cần hỗ trợ phân tích dữ liệu người dùng để tối ưu hóa sản phẩm. Đào tạo đội ngũ sử dụng thành thạo hệ thống cũng là yếu tố quan trọng. Hệ thống CMS nên có giao diện thân thiện, dễ sử dụng, phù hợp với mọi đối tượng người dùng.

3.2. Đào tạo và nâng cao năng lực sản xuất đa phương tiện

Đào tạo là giải pháp then chốt để nâng cao chất lượng sản phẩm đa phương tiện. TTXVN ĐBSCL cần tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn và dài hạn về kỹ thuật quay dựng, biên tập video, đồ họa. Đội ngũ phóng viên cần được trang bị kiến thức về nhiếp ảnh, quay phim, biên tập âm thanh. Ngoài ra, đào tạo về kỹ năng quản lý dự án, làm việc nhóm cũng rất quan trọng. Hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu để xây dựng chương trình đào tạo phù hợp. Khuyến khích đội ngũ tham gia các cuộc thi, hội thảo chuyên ngành để cập nhật xu hướng mới. Đánh giá năng lực sau đào tạo để đảm bảo chất lượng đầu ra. Tạo môi trường khuyến khích sáng tạo, thử nghiệm các sản phẩm mới.

IV. Kết luận và khuyến nghị cho quản lý nội dung báo chí đa phương tiện

Quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện tại TTXVN ĐBSCL là nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi sự nỗ lực từ nhiều phía. Việc nâng cao hiệu quả quản lý không chỉ giúp tăng cường uy tín của cơ quan mà còn đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng của xã hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cần có sự đầu tư đồng bộ về công nghệ, nguồn nhân lực và quy trình quản lý. Các giải pháp đề xuất như xây dựng hệ thống CMS chuyên nghiệp, đào tạo nâng cao năng lực, đầu tư cơ sở hạ tầng là những bước đi cần thiết. Bên cạnh đó, việc tăng cường hợp tác giữa các đơn vị, ứng dụng công nghệ mới cũng góp phần quan trọng. Kết luận này khẳng định tầm quan trọng của quản lý nội dung trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ hiện nay.

4.1. Tầm quan trọng của quản lý nội dung trong kỷ nguyên số

Trong kỷ nguyên số, quản lý nội dung trở thành yếu tố quyết định sự thành công của bất kỳ tổ chức truyền thông nào. Tại TTXVN ĐBSCL, quản lý nội dung hiệu quả giúp nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng phạm vi tiếp cận. Nội dung đa phương tiện không chỉ cung cấp thông tin mà còn tạo ra trải nghiệm tương tác cho người dùng. Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn cho phép tối ưu hóa sản xuất nội dung theo nhu cầu cá nhân. Quản lý nội dung còn giúp đảm bảo tính chính thống, ngăn chặn tin giả, tin sai lệch. Đây là yếu tố quan trọng trong bối cảnh thông tin tràn lan, thiếu kiểm soát.

4.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Trong tương lai, TTXVN ĐBSCL cần tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất nội dung. Việc xây dựng nền tảng báo chí số, tích hợp trí tuệ nhân tạo để phân tích dữ liệu người dùng là xu hướng tất yếu. Ngoài ra, cần tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm, chia sẻ nguồn lực. Đầu tư vào nghiên cứu phát triển sản phẩm đa phương tiện phù hợp với xu hướng toàn cầu. Xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng sản phẩm thường xuyên, liên tục cải tiến. Định hướng phát triển phải gắn liền với nhu cầu thực tế của xã hội, đảm bảo sản phẩm có tính ứng dụng cao.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các cơ quan thường trú thông tấn xã việt nam tại đồng bằng sông cửu long

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Lý luận chung về quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện. Chương 2: Thực trạng quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các CQTT TTXVN tại Đồng bằng sông Cửu Long. Chương 3: Vấn đề đặt ra và một số khuyến nghị nhằm tối ưu hóa quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các CQTT TTXVN tại Đồng bằng sông Cửu Long. 10 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG ĐA PHƢƠNG TIỆN 1.

CƠ SỞ LÝ LUẬN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG ĐA PHƢƠNG TIỆN Ở CÁC CƠ QUAN THƢỜNG TRÚ THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM 1. Một số khái niệm Quản lý Quản lý là sự tác động có định hướng của các chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức, công cụ quản lý thích hợp nhằm đạt mục tiêu quản lý. Trong nghiên cứu khoa học, thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách hiểu, định nghĩa khác nhau tùy theo từng môn khoa học hay cách tiếp cận của người nghiên cứu. “Quản lý” đã tư tưởng có từ cách đây hơn 25 thế kỷ, nhưng vấn đề quản lý theo khoa học lại chỉ mới xuất hiện ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Ở Phương Tây, Frederick W.Taylor trong tác phẩm Những nguyên tắc khoa học quản lý cho rằng: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái gì đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất. Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo vệ sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác. Ở Phương Đông, thuật ngữ “quản lý” là từ Hán - Việt, được hiểu là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”. Quá trình "quản" bao gồm việc chăm sóc, giữ gìn và duy trì để hệ thống luôn ở trạng thái "ổn định".

Trong khi đó, “lý” là quá trình bao gồm việc sửa đổi, sắp xếp và cập nhật hệ thống để hệ thống ở vị trí của "sự phát triển". Nếu nhà quản lý 11 chỉ quan tâm đến "quản", tức là chỉ quan tâm coi sóc và duy trì tổ chức thì tổ chức dễ bị trì trệ. Ngược lại, nếu họ chỉ quan tâm đến "lý", tức là chỉ quan tâm đến việc sắp xếp, tổ chức và đổi mới mà không đặt nó trên cơ sở ổn định, hệ thống sẽ không thể phát triển liên tục. Nói một cách khái quát, “quản” và “lý” luôn phải song hành, không được tách rời nhau, trong cái này có cái kia, để hoạt động của hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng.

Quản lý để đạt được kết quả thực sự bền vững đòi hỏi một chiến lược tích hợp hai quá trình vào với nhau một cách hợp lý. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, phát sinh khi cần có sự nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Với ý nghĩa phổ biến thì quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên một đối tượng quản lý để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng quản lý theo những mục tiêu đã định.

Quản lý bao gồm các yếu tố sau: - Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể có thể là một cá nhân hoặc tổ chức. - Khách thể quản lý: chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người và các quá trình xã hội. - Đối tượng quản lý tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý.

Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau. - Mục tiêu quản lý là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước. Quản lý là một hoạt động phức tạp và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Các yếu tố đó là con người; hệ thống và tư tưởng chính trị tổ chức, thông tin, văn hóa… Nhìn chung, dù ở phương Đông hay phương Tây, “quản lý” là hiện 12 tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội.

Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản lý. Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan. Xã hội càng phát triển, nhu cầu và chất lượng quản lý càng cao. Như vậy, có thể hiểu: Quản lý là hoạt động có tổ chức, có thẩm quyền của một tổ chức chiến lược, tập thể hoặc cá nhân, nhằm điều phối nhân viên hoặc tình nguyện viên để đạt được mục tiêu của họ thông qua việc sử dụng các nguồn lực.

Các nguồn lực sẵn có bao gồm tài chính, kỹ thuật và nhân lực… Với cách hiểu này, quản lý nội dung trong sản xuất sản phẩm báo chí là sự tác động có kế hoạch và có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa nội dung thông tin báo chí đến với công chúng một cách chính xác và nhanh chóng, bài bản và sinh động, nó không chỉ đáp ứng nhu cầu của thông tin của chúng, mà còn hoàn thành nhiệm vụ của một tổ chức báo chí. Tổ chức sản xuất + Triết học định nghĩa: "Tổ chức, nói một cách rộng rãi, là cấu trúc mà sự vật tồn tại. Một sự vật không thể tồn tại nếu không có một số hình thức liên kết giữa các yếu tố trong nội dung của nó. Do đó, tổ chức là thuộc tính của bản thân các sự vật." Tổ chức là thuộc tính của sự vật, hay nói cách khác, sự vật luôn tồn tại dưới dạng là một tổ chức nhất định.

Khoa học tổ chức và quản lý định nghĩa tổ chức theo nghĩa hẹp là “một nhóm người cùng nhau thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc đạt được một mục tiêu xác định của nhóm”. Tổ chức được hiểu chung là xác định cấu trúc và cơ chế của hệ thống, xác định công việc phù hợp với từng nhóm, từng bộ phận và phân công các bộ phận cho người quản lý hoặc giám sát, có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhất định thực hiện các hoạt động cần thiết để thực hiện nhiệm vụ được giao. 13 Việc tổ chức như vậy được gọi là tổ chức bộ máy. Hoạt động tổ chức cũng là sự sắp xếp các nhiệm vụ trong một cơ cấu tổ chức.

Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu thuật ngữ "tổ chức" trong truyền thông đại chúng, cần xem xét để hiểu nó từ hai khía cạnh: Đầu tiên, chỉ tổ chức một nhóm người làm việc trong cùng một lĩnh vực chuyên môn. Thứ hai, tổ chức chỉ được điều hành bởi các công ty truyền thông và các nhà quản lý báo chí - truyền thông nhằm tạo ra một sản phẩm báo chí hoàn chỉnh; một hoạt động nghề nghiệp dành cho các nhà báo với những công việc cụ thể như: lập kế hoạch, tổ chức sản xuất nội dung, thiết kế và trình bày bài báo, in ấn và xuất bản. + Sản xuất là quá trình biến đổi những yếu tố đầu vào thành đầu ra. Mục đích của quá trình chuyển hóa này là tạo giá trị gia tăng để cung cấp cho khách hàng.

Đầu vào của quá trình chuyển đổi bao gồm nguồn nhân lực, vốn kỹ thuật, nguyên vật liệu, đất, năng lượng, thông tin. Đầu ra của quá trình chuyển đổi là sản phẩm, dịch vụ, tiền lương, những ảnh hưởng đối với môi trường. Sản xuất là tạo ra của cải vật chất nói chung. Hoạt động sản xuất tạo ra vật chất cho xã hội bằng cách dùng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động.

Tổ chức sản xuất là sự bố trí các công đoạn, các khâu trong một dây chuyền nhằm thực hiện chu trình kinh doanh từ đầu vào đến đầu ra. Mục tiêu của tổ chức sản xuất là sự bố trí các công đoạn, các khâu nhằm tạo ra năng suất, chất lượng cao hơn, nhịp độ sản xuất nhanh hơn, tận dụng và huy động tối đa các nguồn lực vật chất vào sản xuất, giảm chi phí sản xuất một đơn vị đầu ra tới mức thấp nhất, rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ. Do đó, quyết định lựa chọn tổ chức sản xuất theo dây chuyền, tổ chức sản xuất theo nhóm hay tổ chức sản xuất đơn chiếc là tùy thuộc vào quy mô sản xuất, chủng loại hay kết cấu sản phẩm của doanh nghiệp. 14 Tổ chức sản xuất còn có thể xem xét như là một quá trình thì đó chính là các biện pháp, các phương pháp, các thủ thuật để duy trì mối liên hệ và phối hợp hoạt động của các bộ phận sản xuất theo thời gian một cách hợp lý.

Nội dung tổ chức sản xuất sẽ bao gồm: - Lựa chọn phương pháp tổ chức quá trình sản xuất. - Nghiên cứu chu kỳ sản xuất tìm cách rút ngắn chu kỳ sản xuất. - Lập kế hoạch tiến độ sản xuất và tổ chức công tác điều độ sản xuất Sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện + Sản phẩm báo chí Ở lĩnh vực báo chí, người ta thường dùng khái niệm sản phẩm báo chí để chỉ những tác phẩm báo chí đã được hoàn thiện của các kênh truyền thông đại chúng, sau đó đưa đi in (đối với báo in), phát sóng (đối với truyền hình hình và phát thanh), đưa lên mạng internet (đối với báo điện tử). Điều đó có nghĩa sản phẩm báo chí đã được xã hội hóa thông tin, chỉ tồn tại có ý nghĩa trong mối quan hệ nhà báo - sản phẩm báo chí - công chúng.

Đó là cách hiểu theo nghĩa hẹp, với nghĩa sản phẩm đơn lẻ. Tác giả Tạ Ngọc Tấn quan niệm rằng, trong thông tin báo chí, sản phẩm báo chí hoàn chỉnh (tờ báo, bản tin, chương trình phát thanh, truyền hình) giữ vai trò phương tiện giao tiếp giữa chủ thể và khách thể thông tin.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ