CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ VÀ KHỦNG HOẢNG NỢ 1.1 Tổng quan về nợ 1.1 Một số khái niệm 1.1 Nợ công Nợ công theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới (WB) là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ nợ của: Chính phủ Trung Ương và các bộ; các cấp chính quyền địa phương; ngân hàng Trung Ương; các thể chế độc lập nhưng nguồn vốn hoạt động của nó do ngân sách Nhà nước quyết định (trên 50% vốn thuộc sở hữu Nhà nước) và trong trường hợp vỡ nợ thì Nhà nước phải trả nợ thay. Theo Luật Quản lý Nợ công của Việt Nam có hiệu lực từ 01/01/2010, nợ công bao gồm các khoản: Nợ Chính phủ; Nợ được Chính phủ bảo lãnh và Nợ chính quyền địa phương. Theo đó, nợ Chính phủ là khoản nợ mà Chính phủ vay trong nước và vay nước ngoài (không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ). Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.
Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành. Chính phủ có thể thực hiện việc vay nợ thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ để vay từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế tài chính quốc tế, như IMF, WB,… Hình thức này thường được chính phủ của các nước có độ tin cậy tín dụng thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay nợ bằng hình thức phát hành trái phiếu chính phủ của họ không cao.2 Nợ nƣớc ngoài Định nghĩa nợ nước ngoài theo Quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài tương đồng với định nghĩa chuẩn quốc tế về nợ nước ngoài, hiểu theo nghĩa rộng, được đưa ra trong cuốn “Thống kê nợ nước ngoài: Hướng dẫn tập hợp và sử dụng” do nhóm công tác liên ngành của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) soạn thảo năm 2003. Định nghĩa này phát biểu như sau: “Tổng nợ nước ngoài, tại bất kỳ thời điểm nào, là số dư nợ của các công nợ thường xuyên thực tế, không phải công nợ bất thường, đòi hỏi bên nợ phải thanh toán gốc và/hoặc lãi tại một (số) thời điểm trong tương lai, do đối tượng cư trú tại một nền kinh tế nợ đối tượng không cư trú”.
[17] Theo khoản 8 điều 2 quy chế vay và trả nợ nước ngoài (Ban hành kèm theo Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 1 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ):“Nợ nước ngoài của quốc gia là số dư của mọi nghĩa vụ hiện hành (không bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả nợ gốc và lãi tại một thời điểm của các khoản vay nước ngoài tại Việt Nam. Nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm nợ nước ngoài của k hu vự c công và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân”. Như vậy, theo cách hiểu này nợ nước ngoài là tất cả các khoản vay mượn của tất cả các pháp nhân Việt Nam đối với nước ngoài và không bao gồm nợ của các thể nhân (nợ của cá nhân và hộ gia đình).3 Nợ tƣ nhân Nợ của khu vực tư nhân (hay còn gọi là nợ tư nhân) là các khoản nợ mà chủ thể đi vay là khu vực tư nhân. Loại nợ này bao gồm nợ nước ngoài của khu vực tư nhân không được khu vực công của cùng nền kinh tế đó bảo lãnh theo hợp đồng [17].
Về bản chất đây là các khoản nợ do khu vực tư nhân tự vay, tự trả. Trong thực tế, có những khoản nợ nước ngoài của khu vực tư nhân được một thể chế thuộc khu vực công cư trú trong cùng nền kinh tế bảo lãnh một phần theo hợp đồng (ví dụ như bảo lãnh phần nợ gốc, hoặc bảo lãnh một phần của nợ gốc). Đối với những khoản nợ như vậy thì giá trị hiện tại của các khoản thanh toán được bảo lãnh được xếp vào loại nợ nước ngoài của khu vực tư nhân được công quyền 123doc 3 bảo lãnh, trong khi những khoản thanh toán không được bảo lãnh được xếp vào loại nợ nước ngoài của khu vực tư nhân không được bảo lãnh. Chẳng hạn, một khoản nợ nước ngoài của doanh nghiệp tư nhân chỉ được Ngân hàng Nhà nước bảo lãnh các khoản trả gốc, thì giá trị hiện tại của các khoản trả gốc sẽ được cộng vào nợ nước ngoài của khu vực tư nhân được công quyền bảo lãnh, trong khi các khoản trả lãi thuộc loại nợ nước ngoài của khu vực tư nhân không được bảo lãnh.2 Các chỉ tiêu đánh giá nợ 1.1 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ nợ Việc đánh giá tình trạng nợ công và nợ nước ngoài của một quốc gia là hết sức quan trọng để đề ra những chính sách, chiến lược vay nợ cho đầu tư hợp lý.
Quy mô nợ và trả nợ, trả lãi so với nguồn thu trực tiếp và gián tiếp để trả nợ thường được dùng để đánh giá mức độ nợ. Mức độ nợ cũng ngầm cho biết khả năng trả nợ của các quốc gia trong trung và dài hạn. Một số chỉ tiêu thường dùng như: Tổng nợ công/GDP và Nợ nước ngoài/GDP: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ nợ công và nợ nước ngoài so với quy mô sản xuất của nền kinh tế quốc dân. Qua đó, có thể đánh giá mức độ chèn lấn đầu tư đối với khu vực tư của nợ công và khả năng hấp thụ vốn vay nước ngoài của nền kinh tế.
Về lâu dài, chỉ số này cũng phản ánh được khả năng trả nợ của khu vực công và nền kinh tế, phản ánh rủi ro về thanh toán dài hạn. Nợ công/Thu ngân sách và Nợ nước ngoài/Kim ngạch xuất khẩu: Đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ vay nợ so với nguồn thu trực tiếp từ nền kinh tế để hoàn trả nợ - nguồn thu ngân sách và kim ngạch xuất khẩu. Nghĩa vụ hoàn trả nợ công hàng năm so với GDP và thu ngân sách: Chỉ tiêu này giúp theo dõi được nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi hàng năm của Chính phủ và chính quyền địa phương so với qui mô của nền kinh tế và thu ngân sách, phản ánh mức độ rủi ro thanh khoản trong ngắn hạn cũng như nguồn lực khả dụng của Chính phủ và chính quyền địa phương. Nếu các tỷ lệ này tăng qua các năm nghĩa là trách nhiệm nợ của Chính phủ đang trở nên lớn hơn năng lực sản xuất của nền kinh tế và khả 123doc 4 năng thu ngân sách Nhà nước.
Điều này cũng hàm ý rằng trong tương lai có thể gánh nặng thuế sẽ gia tăng. Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với kim ngạch xuất khẩu: Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng hoàn trả nợ nước ngoài từ nguồn thu xuất khẩu hàng hóa dịch vụ, qua đó phản ánh tính thanh khoản của nợ nước ngoài. Dự trữ ngoại hối so với nợ nước ngoài ngắn hạn : Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sử dụng dự trữ ngoại hối nhà nước để trả các khoản nợ nước ngoài ngắn hạn. Nghĩa vụ nợ dự phòng/Thu ngân sách: Chỉ tiêu này phản ánh rủi ro không có khả năng hoàn trả của các chủ thể khác nhưng được Chính phủ, cơ quan được ủy quyền của Nhà nước hoặc chính quyền địa phương bảo lãnh thanh toán một cách công khai hoặc ngầm định.2 Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nợ Cơ cấu nợ hàm chứa những thông tin quan trọng về mức độ rủi ro của nợ.
Thông thường rủi ro sẽ cao khi tỷ trọng nợ ngắn hạn, tỷ lệ nợ nước ngoài và tỷ lệ nợ được chính phủ bảo lãnh cao. Một số chỉ số đánh giá cơ cấu nợ công như: Nợ ngắn hạn/Tổng nợ: Phản ánh tỷ trọng các khoản nợ cần thanh toán trong thời gian nhỏ hơn một năm trong tổng nợ. Nếu thời hạn vay ngắn hạn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nợ nghĩa là các nghĩa vụ trả nợ phải thực hiện trong tương lai gần. Do vậy, cần phải so sánh nợ ngắn hạn với qui mô của quỹ dự trữ quốc gia.
Thông thường, nợ ngắn hạn có độ rủi ro cao hơn nợ trung và dài hạn, đặc biệt là đối với những quốc gia mà khả năng tiếp cận thị trường vốn trong hoạt động vay nợ có nhiều hạn chế. Nợ nước ngoài/Tổng nợ: Tỷ lệ này càng cao thì gánh nặng nợ nước ngoài càng lớn và rủi ro càng cao. Nợ trong nước thường ít rủi ro hơn vì Chính phủ có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh toán khi đến hạn. Nợ được Chính phủ bảo lãnh/Tổng nợ: Đối với các khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh, Chính phủ của nước đi vay sẽ chịu trách nhiệm trả vốn và lãi cho 123doc 5 nước cho vay trong trường hợp tổ chức đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong hợp đồng.
Do đó, một khi các tổ chức đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ hay vỡ nợ thì nghĩa vụ trả nợ bất thường sẽ đè lên vai Chính phủ. Trong số các chỉ tiêu đánh giá tình hình nợ công, chỉ tiêu nợ công/GDP được quan tâm và sử dụng nhiều nhất. Đa số các quốc gia, các tổ chức kinh tế đều sử dụng chỉ số này để xác định, đánh giá và dự báo tình hình nợ công của một quốc gia và cũng lấy chỉ số này làm chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn hay rủi ro. Các nhà phân tích thường cho rằng mức ngưỡng nợ công an toàn đối với một quốc gia chỉ nên ở dưới mức 60% GDP (đây cũng là mức ngưỡng được ký kết trong hiệp ước Maastricht bởi các thành viên Liên minh Châu Âu).
Tỷ lệ nợ nước ngoài so với GDP ở mức 30% là mức độ an toàn (theo chỉ tiêu đánh giá mức độ nợ nước ngoài của WB). Theo kinh nghiệm quốc tế, nếu tỷ lệ nợ nước ngoài so với GDP 50% thì nền kinh tế rơi vào tình trạng báo động về nợ. Khi đó cần phải kiềm chế tổng mức vay nợ và bố trí cơ cấu nợ vay hợp lý theo hướng đẩy mạnh tốc độ xuất khẩu để giữ tỷ lệ tổng mức nợ nước ngoài so với tổng kim ngạch xuất khẩu < 165%, tức đảm bảo khả năng trả nợ. Tuy nhiên, việc xác định ngưỡng nợ công an toàn chỉ là tương đối, không nên quá dựa vào mức ngưỡng nợ.