Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý khoản phải thu Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nợ phải thu khách hàng tại Trung tâm Kinh doanh VNPT Hà nội – Chi nhánh Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông. Chương 3: Các giải pháp quản lý nợ phải thu khách hàng sử dụng dịch vụ Viễn thông công nghệ thông tin tại Trung tâm Kinh doanh VNPT Hà nội – Chi nhánh Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ PHẢI THU CỦA DOANH NGHIỆP 1. Nợ phải thu của doanh nghiệp 1.
Khái niệm nợ phải thu của Doanh nghiệp Nợ là biểu hiện mối quan hệ giữa chủ nợ, khách nợ thông qua một hoặc nhiều đối tƣợng nợ. Chủ nợ và khách nợ có thể là những tổ chức kinh tế hay những cá nhân có mối quan hệ làm ăn mua bán, trao đổi với nhau. Nợ bao gồm nợ phải thu và nợ phải trả. Các khoản phải thu là khoản nợ của khách hàng với một doanh nghiệp đối với các dịch vụ đã mua hoặc sản phẩm có trên cơ sở tín dụng.
Các khoản phải thu là một loại tài sản của doanh nghiệp tính dựa trên tất cả các khoản nợ, các giao dịch chƣa thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà các khách nợ chƣa thanh toán cho doanh nghiệp. Các khoản phải thu phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp khi thực hiện việc cung cấp sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cũng nhƣ một số trƣờng hợp khác liên quan đến bộ phận vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng tạm thời nhƣ cho mƣợn ngắn hạn, chi hộ cho đơn vị bạn hoặc cấp trên, giá trị tài sản thuế mà chƣa xử lý. Các khoản phải thu đƣợc kế toán doanh nghiệp ghi lại và phản ánh trên bảng cân đối kế toán, bao gồm tất cả các khoản nợ doanh nghiệp chƣa đòi đƣợc khách hàng, kể cả các khoản nợ chƣa đến hạn thanh toán. Các khoản phải thu đƣợc ghi nhận nhƣ là tài sản của doanh nghiệp vì chúng phản ánh các khoản tiền sẽ đƣợc thanh toán trong tƣơng lai.
Các khoản phải thu dài hạn (chỉ đáo hạn sau một khoản thời gian tƣơng đối dài) sẽ đƣợc ghi nhận là tài sản dài hạn trên bảng cân đối kế toán. Hầu hết các khoản phải thu ngắn hạn đƣợc coi nhƣ là một phần của tài sản vãng lai của doanh nghiệp. 7 Nợ phải thu là số tiền mà các cá nhân hay công ty khác nợ doanh nghiệp vì họ đã mua hàng hóa, dịch vụ, nguyên liệu của doanh nghiệp nhƣng chƣa thanh toán vì đƣợc bán dƣới hình thức tín dụng thƣơng mại. Hay nói cách khác, nợ phải thu của doanh nghiệp là số tài sản của doanh nghiệp nhƣng đang bị các tổ chức hay tập thể, cá nhân khác chiếm dụng mà doanh nghiệp có trách nhiệm thu hồi.
Những tài sản đó là những khoản phát sinh trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với các đối tác. Phân loại nợ phải thu của Doanh nghiệp Vì nợ phải thu là mối quan hệ giữa chủ nợ - khách nợ thông qua đối tƣợng nợ. Đối tƣợng nợ ở đây chính là những khoản tiền, giá trị mà khách nợ đang chiếm dụng của công ty và chƣa thanh toán. Để tiện theo dõi các khoản phải thu ta có thể phân loại nợ phải thu theo khách nợ.
Nợ phải thu bao gồm: phải thu khách hàng, trả trƣớc cho ngƣời bán, thuế GTGT đƣợc khấu trừ, phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác. Trong đó phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nợ phải thu thƣờng xuyên phát sinh trong quá trình mua bán, trao đổi hàng hoá và cũng là khoản phải thu gặp nhiều rủi ro về khả năng thu hồi vốn. Chính vì thế nghiệp vụ quản lý nợ tập trung chủ yếu về quản lý các khoản phải thu khách hàng và các khoản trả trƣớc cho nhà cung cấp. Do đó trong đề án này tác giả sẽ đi sâu phân tích về các khoản phải thu khách hàng và quản lý các khoản phải thu khách hàng.
Nợ phải thu bao gồm: 1. Phải thu khách hàng Phải thu khách hàng là khoản tiền mà khách hàng đã mua đang nợ doanh nghiệp khi khách hàng này đã đƣợc doanh nghiệp cung cấp hàng hoá, dịch vụ nhƣng chƣa thanh toán tiền cho doanh nghiệp. Tuỳ theo khả năng thu hồi, thời gian thu hồi, hình thức bảo lãnh, khách nợ thì các khoản phải thu khách hàng lại đƣợc phân ra nhƣ sau: 8 a. Theo khả năng thu hồi, phải thu khách hàng bao gồm: - Nợ có khả năng thu hồi: Đây là những khoản phải thu vẫn còn hạn thanh toán và khách hàng vẫn đang hoạt động kinh doanh tốt.
Những khoản phải thu nhƣ thế này có thể đem lại cho doanh nghiệp những mối quan hệ tốt với khách hàng là động lực thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm. - Nợ không có khả năng thu hồi (nợ khó đòi): đây là những khoản nợ đã quá hạn thanh toán mà khách hàng vẫn không trả đƣợc hoặc những khoản nợ mà doanh nghiệp sau khi thẩm định thấy khách hàng không thể trả đƣợc ngay cả khi thời hạn thanh toán vẫn còn do khách hàng gặp phải một số những khó khăn không thể tiếp tục kinh doanh để trả nợ. Việc xếp loại nợ phải thu khách hàng vào nợ khó đòi rất quan trọng vì nó liên quan tới việc xử lý khoản nợ đó khi khách hàng không thể trả nợ đƣợc, doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra khoản chi phí cho việc thu hồi và phải trích lập dự phòng đề phòng rủi ro không thu hồi đƣợc nợ và có những biện pháp xử lý kịp thời tránh tổn thất cho doanh nghiệp. Ta có thể đi sâu tìm hiểu nợ khó đòi nhƣ sau: - Khái niệm: Nợ khó đòi là các khoản nợ đã quá thời hạn thanh toán, doanh nghiệp đã áp dụng các biện pháp xử lý nhƣ đối chiếu, xác nhận, đôn đốc thanh toán nhƣng vẫn chƣa thu hồi đƣợc.
- Các khoản phải thu đƣợc coi là các khoản nợ khó đòi khi nó đảm bảo các điều kiện sau: + Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán ghi trên hợp đồng kinh tế, các khế ƣớc vay nợ hoặc các cam kết nợ khác. + Nợ phải thu chƣa đến thời hạn thanh toán nhƣng các tổ chức kinh tế (các công ty, doanh nghiệp tƣ nhân, hợp tác xã, tổ chức tín dụng…) đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; ngƣời nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử, đang thi hành án hoặc đã chết. 9 + Những khoản nợ quá hạn từ 3 năm trở lên coi nhƣ không có khả năng thu hồi và đƣợc xử lý theo qui định. - Phân loại nợ quá hạn: Ta có thể dựa vào “tuổi” của các khoản nợ cùng với tình hình hoạt động của doanh nghiệp để phân loại nợ khó đòi.
Theo cách đó ta có 2 loại nợ khó đòi sau: Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán: đây là những khoản nợ của khách hàng đã qua hạn phải trả nhƣng do một lý do nào đó mà khách hàng đó không thể trả đƣợc. Đối với khoản nợ khó đòi này, ta có thể phân ra làm các loại sau: - Khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán từ 3 tháng đến dƣới 1 năm. - Khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán từ 1 năm đến dƣới 2 năm. - Khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán từ 2 năm đến dƣới 3 năm - Khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán từ 3 năm trở lên.
Nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán: nhƣng tổ chức kinh tế đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; ngƣời nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử hoặc đang thi hành án… Các khoản nợ đã quá hạn thanh toán trên 3 năm hoặc chƣa quá hạn thanh toán nhƣng tổ chức kinh tế vay nợ không có khả năng trả nợ đƣợc nữa thì đƣợc coi nhƣ khoản nợ không có khả năng thu hồi. Theo thời gian thu hồi, nợ phải thu bao gồm: - Nợ trong hạn: những khoản tiền hàng mà khách hàng chƣa thanh toán cho doanh nghiệp nhƣng vẫn còn trong thời hạn qui định trong hợp đồng mua bán thì đƣợc coi là những khoản phải thu trong hạn. Thời hạn qui định trong hợp đồng đƣợc doanh nghiệp và khách hàng thoả thuận khi bắt đầu ký hợp đồng mua bán trao đổi hàng hoá. Thời hạn này đƣợc qui định tuỳ theo từng đối tƣợng khách hàng.
10 - Nợ quá hạn: là những khoản nợ phải thu đã vƣợt quá thời hạn qui định trả nợ trong hợp đồng trao đổi hàng hoá mà khách nợ vẫn chƣa thanh toán tiền cho doanh nghiệp. Đối với những khoản nợ này thì rủi ro không thu hồi đƣợc nợ là rất cao do khi gần đến hạn thanh toán thƣờng doanh nghiệp sẽ có những biện pháp thúc giục khách nợ thanh toán tiền hàng nhƣng khách hàng vẫn chƣa thanh toán đƣợc khi thời hạn thanh toán đã hết chứng tỏ những khoản nợ này có vấn đề và cần phải theo dõi để xử lý kịp thời. Theo hình thức bảo lãnh, nợ phải thu bao gồm: Theo hình thức này, doanh nghiệp khi trao đổi hàng hoá việc thu tiền về ngay hay còn cho đối tác nợ lại dựa trên uy tín của đối tác đối với doanh nghiệp. Có hai hình thức nợ nhƣ sau: - Nợ có bảo lãnh: thƣờng áp dụng với những khách hàng mới xuất hiện trên thị trƣờng mà doanh nghiệp chƣa nắm đƣợc tình hình hoạt động kinh doanh của nó; với những khách hàng mà đã từng có những dấu hiệu làm ăn thua lỗ hay có những bằng chứng chứng minh khách hàng này thƣờng hay thiếu nợ với những đối tác khác trong kinh doanh.
Với những khách hàng này doanh nghiệp cần phải theo dõi sát sao quá trình hoạt động để kịp thời nắm bắt tình hình và xử lý khi những khách hàng này có biểu hiện không bình thƣờng trong kinh doanh. - Nợ không có bảo lãnh: thƣờng áp dụng với những khách hàng lâu năm của doanh nghiệp; những khách hàng có uy tín trong hoạt động kinh doanh, trong mối quan hê với đối tác. Đây là những khách hàng lớn không chỉ có uy tín với doanh nghiệp mà còn có uy tín với các doanh nghiệp khác trên thị trƣờng hoạt động của nó. Đối với những khách hàng nhƣ thế này, trong quan hệ mua bán doanh nghiệp không cần đòi hỏi phải có tài sản đảm bảo hay những khoản cầm cố, bảo lãnh.