116 Gido trinh Marketing dich vu Chương 6 QUẦN LÝ CON NGƯỜI TRONG MARKETING DỊCH VỤ MỤC TIỂU: Sau khi học xong chương này, sinh viên cần nắm được: - Vai trò của nhân viên trong sản xuất dịch vụ; - Mối quan hệ giữa sự thực hiện của nhân viên và chất lượng dịch vụ; - Các chính sách quản lý nguồn nhân lực và vai trò của nó trong việc nâng cao định hướng Marketing cho nhân viên công ty; - Phương pháp tuyển dụng, khuyến khích và kiểm tra nhân viên phục vụ. GIỚI THIẾU CHUNG Như đã giới thiệu ở các chương trước, con người có (tầm quan trọng đặc biệt trong các ngành dịch vụ. Con người tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ dưới ba đạng sau đây: - Đối với hầu hết các quá trình cung cấp dịch vụ, nhân viên của công ty phải tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình sản xuất tạo ra dịch vụ. Đặc biệt, đối với nhiều loại dịch vu dang tiếp xúc trực tiếp một - một (l-l) giữa nhân viên phục vụ và khách hàng, vai trò của nhân viên phục vụ đặc biệt quan trọng, như đã nhiều lần nhắc đến trong các chương trước.
- Đối với nhiều loại dịch vụ, người hưởng thụ dịch vụ phải tham gia trực tiếp vào quá trình cung cấp dịch vụ (các dịch vụ tiếp xúc cao). Lúc đó họ là người đồng tạo ra dịch vụ (co-producer). Trong các loại dịch vụ khác, khách hàng hoặc mang các vật phẩm của mình đến giao Chương 6: Quản ly con ngudi trong marketing dich vu 117 cho nhà cung cấp dịch vụ, hoặc tham gia vào khâu chuẩn bi cung cấp dịch vụ. Đối với các dịch vụ tác động đến trí tuệ khách hàng, họ cũng phải tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ để hưởng dịch vụ.
- Đối với các dịch vụ công cộng, những người hưởng thụ dịch vụ khác cũng tham gia vào trong đám đông có mặt tại nơi cung cấp. Do vậy họ cũng ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới lợi ích mà một cá nhân nhận được từ dịch vụ. Họ có thể tạo ra ấn tượng sang trọng hoặc thấp kém của dịch vụ, làm cho không khí vui nhộn, sôi nổi hay cần trở những người khác hưởng dịch vụ. Giao diện Marketing ben trang Quan tri Marketing Giao dién dau vao/ dau ra Quản trị nguồn nhân lực Quản trị tác nghiệp Giao diện động viên, khuyến khích Hình 6.1: Giao diện giữa 03 lĩnh vực quản lý Quản lý dịch vụ thường được xem như là sự kết hợp của quản lý ba lĩnh vực: Quản tri Marketing, Quản trị khai thác và Quản trị nguồn nhân luc, Tuy nhiên, nhiều khi người ta cũng khó tách bạch riêng ba lĩnh vực này (xem Hình ó.
Ví dụ như đối với một Bưu điện Huyện, vấn đề hoàn thiện dịch vụ liên quan trực tiếp tới Quản trị Marketing (chang hạn, phân tích nhu cầu, mong muốn của khách hàng để có thể chủ động chuẩn bị đáp ứng tốt). tới Quản trị khai thác (lập biểu đồ ca kíp sao cho tránh các tình trạng quá tải và đáp ứng linh hoạt nhu cầu ‘118 Gido trinh Marketing dich vu khách hàng), tớt Quản trị nguồn nhân lực (lựa chọn và khuyến khích nhân viên để nâng cao năng suất, chất lượng phục vụ). Chương này sẽ phân tích các quyết định quan trọng về quản lý nhân viên cung cấp dịch vụ, Đối với các doanh nghiệp dịch vụ, nhân viên là yếu tố quan trọng nhất. Việc tuyển chọn, đào tạo, sử dụng đãi ngộ họ là yếu tố quyết định đến việc doanh nghiệp có đảm bảo được chất lượng dịch vụ hay không.
TÂM QUAN TRỌNG CỦA NHÂN VIÊN ĐỐI VỚI VIỆC CUNG CẤP DỊCH VỤ Có thể nói nhân viên là tài sản số một đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ. Do vậy, vấn đề quản trị nguồn nhân lực (HRM - Human Resource Manapement) có vai trò đặc biệt quan trọng. Chúng ta nhận thức được vấn đề này qua việc xem xét hai khía cạnh sau đây về các nhân viên (hai biến số): - Tỷ lệ chi phí về lao động cung cấp dịch vụ trong tổng chi phi sản xuất. - Tầm quan trọng của các giao tiếp giữa các nhân viên và khách hàng trong quá trình cung cấp dịch vụ.
8 Vệ sinh ¥ Buu chính v Y té, ca nhac O van phong ¥ Ngan hang ¥ Tu van =a v2. k) ao S Tầm quan trọng v' Hướng dẫn = của Quan tri nguén du lich a. nhân lực vo.Ð- ˆ ⁄ Xây dựng ¥ Cho thuê xe Điện thoại 2 v Viễn thông du lịch tự lái công cộng | a v wee Thap Cao Mức độ tham gia của nhân viên Hình 6.2: Tâm quan trọng của nhân viên trong cung cáp dịch vụ Chương 6: Quản ly con người trong marketing dịch vụ 119 Trên Hình 6. mô tả ma trận với 02 biến số nêu trên.
Đối với chức năng Quản trị nguồn nhân lực (QLNNL), cần chú trọng tới nhóm dịch vụ mà giá trị của hai biến số nêu trên đều lớn nhất (tỷ lệ chi phí cho lao động cung cấp dịch vụ lớn nhất; nhân viên có vai trò quan trọng nhất trong quá trình cung cấp dịch vụ). Các dịch vụ mang tính cá nhân như chăm sóc y tế, thẩm mỹ, uốn tóc.) thuộc loại này. Trong các loại dịch vụ khác, chi phí cho lao động cung cấp dịch vụ có thể chiếm tỷ trọng nhỏ, nhưng vai trò của nhân viên cao, tác động mạnh đến cảm nhận chất lượng của dịch vụ đối với khách hàng. Dịch vụ điện thoại thuộc loại này.
Tầm quan trọng của Quản lý nguồn nhân lực đối với các doanh nghiệp dịch vụ nói chung và đối với lĩnh vực bưu chính, viễn thông nói riêng còn là hệ quả của môi trường kinh doanh ngày càng được tự do hóa. Theo yêu cầu của Đảng và Chính phủ, ở Việt Nam hiện nay tất cả các ngành, trong đó có ngành Bưu chính, Viễn thông, đều phải xây dựng lộ trình hội nhập. Cạnh tranh ngày càng gia tăng. Từ cạnh tranh trên thị trường dịch vụ bưu chính, viễn thông sẽ dẫn đến cạnh tranh trên thị trường các yếu tố đầu vào cho sản xuất, trong đó có nguồn nhân lực.
Họ ngày càng thực sự là “Khách hàng bên trong”, đòi hỏi phải được quan tâm thích đáng nếu doanh nghiệp muốn “Hướng về khách hàng bên ngoài”, muốn cạnh tranh thắng lợi. QUAN LY NGUON NHÂN LỰC VÀ QUAN HỆ VỚI MARKETING 6. Tổng quan Xây dựng “Kế hoạch nguồn nhân lực” là một bộ phận trong “Chiến lược kinh doanh” của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp dịch vụ sử đụng nhiều lao động và hoạt động theo tư duy hướng về thị trường, kế hoạch nguồn nhân lực có liên hệ chặt chế với kế hoạch Marketing.
Quan trị nguồn nhân lực có mục tiêu cung cấp nguồn nhân lực cho Doanh nghiệp để thực hiện được chiến lược kinh doanh chung đặt 120 Giáo trình Marketing dịch vụ ra. Nó có thể trái ngược với “Quản lý nhân sự” theo truyền thống, vì chức năng sau này thường tách rời khỏi mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Quản lý nhân sự thường thiên về các hoạt động kiểm tra và hành chính, do vậy ít liên quan đến chức năng Marketing trong doanh nghiệp. Một số nhà nghiên cứu chia Quản trị nguồn nhân lực thành hai bộ phận cấu thành, gọi là Quản trị nguồn nhân lực “Cimg” và Quản trị nguồn nhân lực “Mềm”.
Quản trị nguồn nhân lực “Cứng” quan tâm đến kết quả kinh tế của doanh nghiệp (đo bằng hiệu quả, năng suất lao động). Quá trình sắp xếp lại lao động trong các doanh nghiệp thường được đánh giá bằng các chỉ tiêu kinh tế đó. Quản trị nguồn nhân lực “Mêm” nhấn mạnh đến tầm quan trọng đối với doanh nghiệp trong việc phát triển quan điểm coi nhân lực như là nguồn tài sản chủ yếu của doanh nghiệp, cần phải phát triển và khuyến khích họ tham gia vào mọi hoạt động của doanh nghiệp. Quản trị nguồn nhân lực và mối quan hệ vớt Marketing Vai trò của Marketing là đạt được mục tiêu của doanh nghiệp bằng cách thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
Còn Quản trị nguồn nhân lực (QTNNL) nhằm tới đạt được mục tiêu của doanh nghiệp thông qua sử dụng nguồn nhân lực. Đo vậy QPNNL cũng hướng tới thỏa mãn nhu cầu của khách hàng bên ngoài (và tất nhiên là cả khách hàng bên trong!). Trong doanh nghiệp dịch vụ, QTNNL có 03 nhóm khách hàng cần quan tâm, đó là: - Các nhân viên: Đó là vấn đề về các phương pháp động viên, thúc đẩy họ và tất nhiên là phải tuyển chọn đúng. Nhóm này là đối tượng của Marketing bên trong mà chúng ta sẽ tìm hiểu dưới đây.
- Nhóm quản lý cấp cao: Các nhà quản lý các chức năng khác nhau trong doanh nghiệp cần nhận thức về ý nghĩa trọng tâm của các hoạt động nguồn nhân lực đối với sự thanh công của lĩnh vực mình phụ trách và của toàn doanh nghiệp. Chuong 6: Quan ly con nguoi trong marketing dich vu 121 - Các nhóm bên ngoài: Bao gồm những nhân viên tương lai, và gián tiếp hơn là các khách hàng tiềm năng, các trung gian tiềm năng và các nhóm quan tâm khác như nhóm áp lực và các cơ quan quản lý của Nhà nước. Doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện được mục tiêu của mình đối với các nhóm này nếu doanh nghiệp đó thành công trong việc quản lý nguồn nhân lực. | Theo tư duy hướng về khách hàng, các chức năng quản lý khác nhau của Doanh nghiệp phải được liên kết chặt chẽ với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Trong Marketing dịch vụ, sự liên kết này giữa QTNNL và Marketing được thực hiện xoay quanh khách hàng và bao gồm 03 yếu tố sau: - Hiểu rõ nhu cầu khách hàng: QTNNL hỗ trợ đắc lực cho các nỗ lực Marketing qua việc tuyển chọn và huấn luyện các nhân viên sao cho lực lượng này có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Chức năng Marketing cần cung cấp thông tin phản hồi cho chức năng QTNNL về mức độ hài lòng của khách hàng (qua điều tra). Thông tin này được dùng để đánh giá nhân viên và kết hợp với quá trình Quản lý chất lượng tổng thể. | - Theo doi va danh gid: Các chính sách và chức năng của QTÌNNL phải phục vụ cho mục tiêu chung của doanh nghiệp.
Do vậy, nó phải được đánh giá căn cứ vào kết quả và đóng góp của nó vào mục tiêu chung. Chẳng hạn, kết quả nghiên cứu Marketing cho thấy rằng 60% những trường hợp khách hang phan nan là do thái độ của nhân viên giao dịch. Điều này dẫn tới chỗ phải xem xét lại chính sách tuyển chọn, huấn luyện hoặc quản lý lực lượng bán hàng. - OTNNL va két quả của doanh nghiệp: Hoạt động của tất cá các chức năng trong doanh nghiệp phải đóng góp vào kết quả chung của doanh nghiệp.