phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề án có kết cấu bao gồm 3 phần: Phần 1. Cơ sở xây dựng đề án Phần 2. Nội dung của đề án Phần 3. Các đề xuất và kiến nghị 7 PHẦN 1.
CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhân lực ngành thanh tra 1. Khái niệm nhân lực ngành thanh tra 1. Nhân lực Nhân lực có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia nói chung và ngành kinh tế nói riêng.
Theo Lê Thanh Hà (2009): “Nhân lực được hiểu là nguồn lực trong mỗi con người. Nó bao gồm cả thể lực và trí lực. Nó thể hiện ra bên ngoài bởi khả năng làm việc. Nó bao gồm cả sức khỏe (chiều cao, cân nặng, độ lớn, sức bền của lực…), trình độ (kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm), tâm lí, ý thức, mức độ cố gắng, sức sáng tạo, lòng đam mê”… Hiểu được bản chất nhân lực là cần thiết đối với xây dựng chính sách và thực hiện phát triển chính sách nhân lực hiệu quả.
Tiếp cận theo quan điểm của Lê Thanh Hà, đề án này cho rằng:“Nhân lực là toàn bộ nguồn lực của con người cả về trí lực, thể lực và tâm lực, là lực lượng lao động với kỹ năng nhất định để làm công việc mà thị trường có nhu cầu”. Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực, trí lực và gồm cả tinh thần. Thể lự là sức khỏe của thân thể nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người phụ thuộc vào giới tính, thời gian công tác, độ tuổi.
Trí lực chỉ sự suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách. của từng người. Ngành thanh tra Thuật ngữ “thanh tra” được biết đến từ rất nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tiếp cận theo Từ điển Pháp luật Anh - Việt, động từ “inspect” có nghĩa là “thanh tra” và được giải thích là hoạt động kiểm tra, kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra; còn theo nghĩa của danh từ “inspectorate” trong Từ điển Anh - Anh - Việt, “thanh tra” mang nghĩa một cơ quan, tổ chức, bộ phận thanh tra ví dụ như ban thanh tra, cơ quan thanh tra… Từ điển Luật học giải thích “thanh tra là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định - sự tác động có tính trực thuộc”.
Khái niệm thanh tra được định nghĩa trong ba cuốn từ điển nói trên về cơ bản đã làm rõ được chủ thể, đối tượng và mục đích của hoạt động thanh tra. Hiểu theo nghĩa này, thanh tra không đơn thuần chỉ là sự xem xét từ bên ngoài mà cụ thể hơn, thanh tra là hoạt động kiểm tra, kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra. 8 Theo khoản 1 Điều 3- Luật Thanh tra 2022, thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hoạt động thanh tra bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.
Hiện nay có khá nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ “ngành”. Dưới góc độ kinh tế học: “Ngành là tập hợp các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh sản xuất ra các sản phẩm cùng loại”. Suy cho cùng, có thể hiểu một cách khái quát nhất: “Ngành là thuật ngữ dùng để chỉ một tập hợp hoạt động có sự giống nhau tương đối về đối tượng, yêu cầu và mục đích nghề nghiệp”. Xét trên góc độ cơ cấu tổ chức, ngành thanh tra được hiểu với tư cách là một thực thể pháp lý, một thiết chế nhà nước hay nói cách khác là hệ thống các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thực hiện chức năng thanh tra.
Thiết chế đó phụ thuộc vào chế độ chính trị, cấu trúc nhà nước hoặc quan niệm về quyền lực của mỗi quốc gia khác nhau. Tiếp cận theo khía cạnh này, ngành thanh tra chính là hệ thống cơ quan được thành lập theo quy định của pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất định với cơ cấu phòng ban, nhân sự và được trang bị điều kiện cơ sở vật chất hoàn chỉnh. Theo quy định tại Luật Thanh tra 2022, các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra gồm: 1) Cơ quan thanh tra Nhà nước, gồm: Thanh tra Chính phủ; thanh Bộ, cơ quan ngang Bộ; thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thanh tra sở; thanh tra quận, huyện, thị xã, và 2) Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, lĩnh vực Xét trên góc độ quản lý, ngành thanh tra là tập hợp các hoạt động của các cơ quan thanh tra nhằm mục đích phát hiện, phòng ngừa, xử lý các vi phạm. Theo nghĩa này, ngành thanh tra là các hoạt động kiểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm kết luận đúng sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Hoạt động thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Trong đó, thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành 9 pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó. Xét trên góc độ nhân sự hành chính nhà nước, ngành thanh tra chỉ đội ngũ người làm việc trong hệ thống cơ quan thanh tra nhà nước bao gồm cán bộ, công chức, viên chức và đội ngũ lao động hợp đồng.
Như vậy, tùy theo mục đích nghiên cứu mà quan niệm về ngành thanh tra có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ góc độ khác nhau. Theo quan điểm của đề án này: “Ngành thanh tra bao gồm các cơ quan thanh tra nhà nước (Thanh tra Chính phủ, Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh, Thanh tra sở, Thanh tra huyện), các cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành và đội ngũ nhân sự làm việc trong hệ thống cơ quan này. Với chức năng cơ bản là kiểm tra, xem xét hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân bằng những hình thức khác nhau theo quy định của pháp luật; qua đó phòng ngừa, phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm; chủ động hoặc kiến nghị ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật; ngành thanh tra đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo trật tự, kỷ cương của bộ máy nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nhân lực ngành thanh tra Từ khái niệm nhân lực và ngành thanh tra, hiểu một cách khái quát, nhân lực ngành thanh tra là tổng thể đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chuyên gia, người lao động với trí lực, thể lực và tâm lực, là lực lượng lao động với kỹ năng nhất định, làm việc trong các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra, bao gồm các cơ quan thanh tra nhà nước (Thanh tra Chính phủ, Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh, Thanh tra sở, Thanh tra huyện), các cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành.
Với cách tiếp cận nói trên, nhân lực ngành thanh tra bao gồm thể lực, trí lực và gồm cả tinh thần. Trong đó, thể lực là sức khỏe của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chuyên gia, người lao động. Thể lực phụ thuộc rất lớn vào tình trạng sức khỏe, mức sống, thu nhập, chế độ làm việc, chế độ ăn uống…Trí lực là kiến thức, kỹ năng, thái độ, nhân cách… của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chuyên gia, người lao động trong ngành thanh tra và phụ thuộc rất lớn vào bản thân người lao động cũng như cơ chế, chính sách của tổ chức để đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chuyên gia, người lao động trong ngành thanh tra có thể hoàn thiện trí lực của bản thân. Từ đó, có thể nhận thấy, để phát triển toàn diện nhân lực ngành thanh tra đáp ứng tốt nhất yêu cầu của ngành, quản lý nhân lực ngành thanh tra là 10 yêu cầu cấp thiết.
Đặc điểm và vai trò của nhân lực ngành thanh tra 1. Đặc điểm của nhân lực ngành thanh tra Thứ nhất, nhân lực ngành thanh tra chịu sự chỉ đạo, điều hành, quản lý về mặt tổ chức, biên chế của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp đồng thời chịu sự chỉ đạo về công tác, chuyên môn, nghiệp vụ của hệ thống cơ quan thanh tra nhà nước. Xuất phát từ chính đặc điểm của hoạt động thanh tra, cơ quan thanh tra luôn được tổ chức theo cấp hành chính và theo ngành, lĩnh vực với vị trí, chức năng và mục đích cụ thể. Cơ quan thanh tra được xác định là cơ quan chuyên môn, là một bộ phận của bộ máy hành chính nhà nước, được thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thanh tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng.
Chính vì vậy, cơ quan thanh tra cũng như nhân lực ngành thanh tra sẽ chịu sự quản lý về mặt tổ chức, biên chế, công tác của cơ quan nhà nước cùng cùng cấp. Mặc dù chịu sự quản lý, chỉ đạo, điều hành của cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp; song đối với các vấn đề về công tác chuyên môn, nghiệp vụ, nhân lực ngành thanh tra chịu sự chỉ đạo chung của hệ thống cơ quan thanh tra nhà nước. Thanh tra Chính phủ là cơ quan đóng vai trò chỉ đạo về công tác, hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra; bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh tra trên phạm vi cả nước.