CHƯƠNG 1: MỘT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN CHUNG VE CHAT LƯỢNG VA QUAN LY CHAT LƯỢNG CONG TRÌNH XÂY DỰNG.1 CÁC KHÁI NIỆM VỀ CHAT LƯỢNG, QUAN LÝ CHAT LƯỢNG SAN PHAM XÂY DỰNG VA PHAM TRU QUAN LÝ CHAT LƯỢNG. 1411 Khái niệm về chất lượng. Chất lượng a thuật ngữ được nhắc đếnt rất âu we này có nhiều cách hiểu khác nhau, cách iếp cận khác nhau và sự thống nhất chưa cao. “Trong những năm gin đây, cũng với sự chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung sang nền kinh tế thị trường thì nhận thức về chất lượng cũng thay đồi.
Lĩnh vực chất lượng ở nước ta lúc này còn khá mới mẻ, do vậy định nghĩa va chất lượng ở nước ta chưa có ai định nghĩa được và chỉ hiểu theo các định nghĩa rên thé giới “Trước hết định nghĩa về chất lượng được dựa trên quan điểm tết học. Chất tượng là sự đạt đến sự hoàn hảo, tuyệt đối. Chất lượng là cái gi đó mang tính chất trừu tượng, mọi người chỉ nghe thẤy đã cảm thấy sản phẩm đạt đền sự hoàn hảo, sản phẩm được sản xuất ra đã dép ứng được mọi yêu cầu của khách hing và nó có đầy 0 các tinh năng, tác dung. Nhưng các nhà khoa học tiên tiến trong lĩnh vực chất lượng sau này cho rằng định nghĩa này khả năng áp dụng không cao, không lắm bắt một cách cụ thể và dựa trên quan điểm kinh doanh không phủ hợp.
‘Quan điểm thứ hai, định nghĩa được xuất phát từ các đặc tính của sẵn phẩm. Shewart- một nhà quản lý người Mỹ là người khởi xướng và đại diện cho. quan điểm này. Ông cho tằng: Chdt lượng sản phẩm trong sản xudt công nghiệp lã một tập hop các đặc tính của sản phẩm phản ánh các giá trị sử dựng của nó.
Định nghĩa này coi chất lượng là một vin đề cụ thể có thé đo đếm được. Theo quan điểm này, người kinh doanh sẽ cố gắng đưa ra càng nhiều đặc tính sản phẩm càng tốt. “Càng nhiều đặc tính sản phẩm thi cảng đếp ứng được yêu cầu của khách hàng, “Chính vì vậy chất lượng là sự phản ánh số lượng tồn tại các đặc tính trong sản phẩm. Chất lượng cao — chỉ phí cao.
Tuy nhiên, theo quan điểm này các nhà sẵn xuất ra sản phẩm đã tách khỏi nhu cầu của khách hàng , không tính đến sự thích nghỉ khác nhau về sở thích của từng người. Quan điểm ba, chất lượng được xuắt phát từ người sản xuất: Chất lượng sản phẩm là sự đạt được và tuân thủ đúng những tiêu chuẩn, yêu edu kinh lễ Kỹ thuật đã được thiết kế từ trước. Theo quan điểm này, các nhà sản xuất đề ra các tiêu. chuẩn và sản xuất theo đúng các tiêu chuẩn đó đồng thời thấy rõ các chỉ tiêu nào không phù hợp dựa vào các công cụ thống kê.
Tuy nhiên, quan điểm này sẽ không phù hợp, sản phi không xuất phát ừ yêu cầu của hàng, nhu cầu của khách hàng luôn luôn thay đổi do đó chất lượng ngày càng lạc hậu so với yêu cầu đó, đòi hỏi người quân ký phải lắm bit rất nhanh sự thay đỗi của thị trường khách hing. “Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa sau: Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của mt sản phẩm, hệ thống hay qúa trình dé đập ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liÊn định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm sau đây của khái niệm chất Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà không được nhu clu chấp nhận thi phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thé rất hiện đại. Đây là một kết uận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình, > Do chất lượng được do bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng, > Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phi xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sy thôa mãn những nhu edu cụ thể.
Các nhu cầu này không chỉ ừ phía khách bằng mà còn từ các bên có liên quan, ví dụ nh các xyêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội. > Nhu cầu có thể được công bổ rõ rằng đưới dạng các qui định, tiêu chuỗn nhưng cũng có những nhu cầu không thé miêu tả rõ rằng, người sử đụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong chúng trong quá trình sử dụng > Chất lượng không phi chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta vẫn hiểu hing ngày. Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình.2 Khái niệm về chất lượng sản phẩm xây dựng. Khái niệm về sản phẩm xây dựng Sản phẩm xây dựng là các công trình xây dựng hoàn chỉnh được tạo thành ol sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thd bao gồm phần dui mặt đắt, phần trên mặt đất, phần đưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế.
Công trình. xây đựng bao gằm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, siao thông, thủy lợi, răng lượng và các công trình khác. Khỏiniệm về chất lượng sản phẩm xây dựng 'Khái niệm về chất lượng sản phẩm đã xuất hiện từ lâu, ngày nay được phd biển và rất thông dựng hằng ngày trong đời sống cũng như trong sách báo. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm: > Chit lượng sản phẩm xây dựng là tổng thé các (huộc tính của công trình thỏa mãn các yêu cầu sử dụng.
> Chất lượng sản phẩm xây dựng là tập hợp các đặc tính của một thực thể có khả năng thỏa man những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm ẩn. > Chit lượng sin phẩm xây đựng là tổng thể đặc trưng của công trình xây dựng bao gồm các khía cạnh: tính năng sử dụng, tính dễ sử dụng, tính sẵn sing, độ tin cây, tinh thuận tiện và đễ đảng trong sửa chữa, tính an toàn, thẳm mỹ, các tác động đến môi trường. > Chit lượng sản phẩm xây dựng là tập hợp các đặc tính, đặc trừng cho giá trị sử dụng công trình do các giai đoạn hình thành công trình xây dựng quy định. > Chất lượng sản phẩm là tổng hợp những chỉ tiên, những đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức thỏa mãn những nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định.
Hay nổi cách khác chúng ta có thể hiểu chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu Sự phù hợp nầy phải được thể hiện trên cả 3 phương diện: ¥ Khả năng hoàn thiện: ¥ Giá thỏa mãn nhủ cầu; ¥ Đứng thời diém. > ‘Theo quan niệm của các nha sản xuất: Chất lượng sản phẩm là sự hoàn hảo và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chun, quy cách đã xác định trước. >-_ Xuất phát ừ người tiêu dùng: Chất lượng sản phẩm là sự phù hợp của Côn nghĩa khác nhau về * lượng sin phẩm xét theo các quan điểm tiếp cận khác nhau. Để giúp cho hoạt động quản lý chất lượng được thống nhất, dB ding, Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẳn hóa (ISO) trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000 đã đưa ra định nghĩa: "Chất lượng sản phẩm là mức độ thỏa mãn của một ập hợp cúc thuộc tinh 46i với các yêu cầu".
© Khái niệm vé chất lượng công trình xây dựng, “Chất lượng công trình xây đụng là mứ độ dip ứng những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật của công trình phù hợp với quy chuẩn xây đựng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng, kinh tế (Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng).3 Khái niệm về quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng. Clic khải niệm về quản lý chất lượng: 'Quản lý chất lượng là một khía cạnh của chức năng quản lý để xác định và thực hiện chính sách chất lượng, Như ta đã biết có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng sản phẩm do đó cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. chất lượng sản phẩm: ‘Theo GOST 15467-70, quản lý chất lượng là xây dựng, đảm bảo và duy ti mức chất lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo và lưu thông hàn tiêu. Điền này thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng có hệ thống, cũng như những tác động hướng đích tới các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng đến chất lượng.G Robertson, một chuyên gia người Anh về chất lượng cho rằng: Quản lý.
chit lượng được xác định như là một hệ thống quan trị nhằm xây dựng chương trình và sự phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường chất lượng trong tổ chức thiết kể, sản xuất sao cho dim bảo nền sản xuất có hiệu quả nhất, đồng thời cho phép thoả mãn đầy đủ các yêu cầu của người tiêu dùng.V Feigenbaum, nhà khoa học người Mỹ cho rằng: Quan lý chất lượng là một hệ thống hoạt động thống nhất có hiệu quả của những bộ phận khác nhau trong một tổ chức (một đơn vị kinh tế ) chịu trách nhiệm triển khai các tham số chất lượng, duy trì mức chất lượng đã đạt được và nâng cao nó để đảm bảo sản xuất và tiêu dùng sản phải một cách kinh té nhất, thoả mãn nhu cầu của tiêu ding, Trong các tiêu chuẩn công ny Nhật Bản (IS) xác định: quản lý chất lượng là hệ thống các phương pháp sản xuất tạo điều kiện sản xuất tiết sm những hàng hoá có chit lượng cao hoặc đưa ra những địch vụ có chất lượng thoả mãn yêu cầu của người tiêu ding. Giáo su, tiến sĩ Kaoru Ishikawa, một chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực. quản lý chất lượng của Nhật Bén đưa ra định nghĩa quản lý chất lượng có nghĩa là: Nghiên cứu triển khai, thiết kế sản xuất và bảo dung một số sin phẩm có chất lượng, kinh tếnhất, nhất cho người tiêu ding và bao giờ cũng thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Philip Crosby, một chuyên gia người Mỹ về chất lượng định nghĩa quản lý chất lượng: Là một phương tiện có tính chất hệ thống đảm bảo việc tôn trọng tổng thể tắt cả các thành phẩn của một kế hoạch hành động.