Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN VIỆN TRỢ KHÔNG HOÀN LẠI 1. Tổng quan về viện trợ không hoàn lại 1. Khái quát về viện trợ không hoàn lại 1. Một số khái niệm Trong phát triển của kinh tế thế giới, khoảng cách giầu nghèo giữa các nước ngày càng trở lên rất lớn.
Các nước chậm phát triển không thể tự phát triển nền kinh tế của mình mà không có sự hỗ trợ giúp đỡ từ bên ngoài. Xuất phát từ nhu cầu được hỗ trợ và vay vốn từ các nước này, ngày 14/12/1960 Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) được thành lập với số thành viên ban đầu là 20 thành viên, với mục đích là tạo nguồn vốn để hỗ trợ cho các nước kém phát triển thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội cho mình. Từ năm 1970 Liên Hiệp quốc yêu cầu các nước phát triển dành ít nhất 0.7% GDP của nước mình để tạo nguồn vốn viện trợ cho các nước nghèo. Vốn ODA thể hiện mối quan hệ quốc tế giữa một bên là các nước phát triển và bên kia là các nước đang phát triển thông qua các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản vốn vay ưu đãi.
Tại Việt Nam, ODA được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ, bao gồm: Chính phủ nước ngoài và các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia. ODA được cung cấp qua các hình thức sau: ODA không hoàn lại và ODA vay ưu đãi có yếu tố không hoàn lại chiếm ít nhất 25%. Dự án là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu xác định, được thực hiện trong một thời hạn nhất định, dựa trên những nguồn lực xác định. Dự án bao gồm dự án đầu tư và dự án hỗ trợ kỹ thuật.
Dự án đầu tư là dự án tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo 7 Luan van những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định. Dự án hỗ trợ kỹ thuật là dự án tập trung chủ yếu vào việc cung cấp các yếu tố kỹ thuật phần mềm, bao gồm các dự án phát triển năng lực thể chế, phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ hoặc chuyển giao kiến thức, kinh nghiệm, cung cấp các yếu tố đầu vào về kỹ thuật để chuẩn bị và thực hiện chương trình, dự án đầu tư. Chương trình là một tập hợp các hoạt động, các dự án có liên quan đến nhau và có thể liên quan đến nhiều ngành kinh tế, kỹ thuật, nhiều vùng lãnh thổ, nhiều chủ thể khác nhau, được thực hiện thông qua phương pháp tiếp cận liên ngành, có thời hạn thực hiện tương đối dài hoặc theo nhiều giai đoạn và nguồn lực để thực hiện có thể được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, theo nhiều phương thức khác nhau. NGO là các tổ chức phi chính phủ và trợ giúp không vì mục đích lợi nhuận của các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài, các tổ chức khác và cá nhân người nước ngoài, kể cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài hỗ trợ cho các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức nhân dân (bao gồm các đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp và một số tổ chức khác) của Việt Nam thực hiện các mục tiêu nhân đạo và phát triển dành cho Việt Nam.
Viện trợ không hoàn lại là các khoản trợ giúp không phải hoàn trả dưới hình thức tiền, hiện vật, tri thức, từ các Chính phủ, các tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài, các tổ chức kinh tế, hoặc cá nhân người nước ngoài cho Việt Nam nhằm phát triển kinh tế - xã hội, hoặc các mục đích nhân đạo khác được thực hiện thông qua các văn kiện chính thức ký kết giữa hai bên, được cấp có thẩm quyền phê duyệt và các khoản trợ giúp nhân đạo, cứu trợ 8 Luan van khẩn cấp nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, thiên tai. Viện trợ không hoàn lại thường cấp dưới các hình thức sau: Hỗ trợ kỹ thuật: là sự hỗ trợ cho các nước đang phát triển thực hiện các nghiên cứu phát triển, lập nghiên cứu khả thu, đánh giá tác động môi trường, hỗ trợ ngành nghề. Các tổ chức tài trợ thực hiện tài trợ thông qua việc thuê các chuyên gia đào tại cho nước nhận vốn ODA Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật: là hình thức viện trợ cho các nước nghèo có xẩy ra thiên tai, dịch bệnh. Viện trợ thực hiện dưới dạng hàng hóa thiết yếu như lương thực, thuốc chữa bệnh, vải.
Đầu tư các dự án bảo vệ môi trường: Nguồn vốn ODA dùng để đầu tư vào các dự án xử lý chất thái rắn - nước thải đô thị, các khu bảo tồn thiên nhiên, xử lý chất độc sau chiến tranh, trồng rừng phòng hộ. Đối tượng cung cấp ODA bao gồm các Chính phủ nước ngoài, các tổ chức liên Chính phủ hoặc liên Quốc gia như các tổ chức phát triển của Liên Hợp Quốc: UNICEF, UNFPA, WHO, UNESCO, EU, OECD, ASEAN; Các tổ chức tài chính Quốc tế: WB, ADB… Đối tượng cung cấp NGO bao gồm các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài; các tập đoàn, công ty nước ngoài; Các trường đại học, các viện nghiên cứu, các trung tâm, các quỹ hoặc các cơ quan nước ngoài; Hội đoàn và các hội hữu nghị được thành lập ở nước ngoài, trong đó có cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Các cá nhân là người nước ngoài, kể cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Viện trợ có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như viện trợ không hoàn lại, cho vay, trợ giúp kỹ thuật, cung cấp hàng hoá. Đối với nước ta hiện nay viện trợ nước ngoài có các phương thức sau.
Viện trợ song phương là loại viện trợ của Chính phủ các nước thoả thuận tay đôi với Việt Nam. Viện trợ này thường thông qua một tổ chức chính phủ, cơ quan quản lý hoạt động viện trợ, hợp tác phát triển kinh tế với nước 9 Luan van ngoài của Chính phủ cung cấp viện trợ. Ví dụ như Chính phủ Thụy Điển là tổ chức SIDA, Chính phủ Đức là tổ chức KFW. Viện trợ đa phương là loại viện trợ thường được thực hiện thông qua một tổ chức quốc tế nào đó, ví dụ như các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc UNICEF, WHO hoặc EC, WB.Viện trợ đa phương hiện nay được coi là ưu việt hơn các loại hình khác do nó tránh được những vấn đề khó khăn nảy sinh từ những mối quan hệ tay đôi, đặc biệt các vấn đề liên quan đến chính trị.
Viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ là loại viện trợ do các tổ chức phi Chính phủ thực hiện. Tuy nhiên cũng có một số trường hợp viện trợ là của Chính phủ nhưng lại được thực hiện thông qua tổ chức phi Chính phủ nào đó. Vai trò dự án viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam Với nhận thức ODA là một bộ phận của đầu tư công nên phải được quản lý chặt chẽ và hiệu quả, trong những năm qua Chính phủ không ngừng hoàn thiện hệ thống tổ chức và quản lý nguồn vốn này. Theo tinh thần đó, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ODA trong đó có phân công trách nhiệm và quyền hạn cụ thể cho từng cơ quan với một cơ chế phối hợp nhịp nhàng.
Cụ thể: Chính phủ giao bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đầu mối về điều phối, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA; Bộ Tài Chính thực hiện chức năng quản lý tài chính đối với nguồn vốn này; Bộ Ngoại giao; Bộ Tư Pháp, Ngân hàng nhà nước, Văn phòng chính phủ,. tham gia quản lý nhà nước về ODA theo chức năng và nhiệm vụ cụ thể của mình trong chu trình ODA; Các bộ, nghành và địa phương với vai trò cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm quản lý và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án ODA thông qua chủ dự án và Ban quản lý dự án. Trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, nguồn viện trợ không hoàn lại có vai trò rất quan trọng, đặc biệt đối với những nước đang phát triển như Việt Nam. Điều đó được thể hiện qua một số nội dung chủ yếu sau đây: 10 Luan van Thứ nhất, các nước nhận vốn ODA thường là các nước nghèo đang thiếu vốn để phát triển kinh tế xã hội.
Các nước đang phát triển thường trong tình trạng cở sở hạ tầng nhỏ bé, nhân lực chưa được đào tạo đúng mức, khả năng huy động vốn trong nước thấp. Nên rất khó cho các nước này tự có thể tạo được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao cũng như trong việc giải quyết các cấn đề như thiên tai, dịch bệnh.Các nước đang phát triển đang có nhu cầu rất lớn về vốn cho phát triển kinh tế trong nước, trong khi phần lớn các nước đang phát triển nguồn lực trong nước huy động không đáp ứng nhu cầu vốn hiện tại, cũng như không có khả năng vay vốn trên thị trường vốn quốc tế với lãi suất thương mại. Nên đây là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước hàng năm. Nguồn này có ý nghĩa rất lớn vì là khoản tài trợ ở bên ngoài cho nhà nước, nhà nước không phải bỏ vốn chi phí đầu tư.
Ở nhiều quốc gia và ở thực tiễn Việt Nam những năm qua cho thấy nguồn viện trợ này đã góp phần lớn trong việc tạo lập cân đối, giảm bội chi cho ngân sách. Thứ hai, vốn ODA giúp các nước nghèo phát triển về cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Để thu hút đầu tư nước ngoài, bên cạnh các chính sách ưu đãi như xoá đói, giảm nghèo, phòng trừ dịch bệnh, phát triển vùng sâu, vùng xa, xây dựng cơ sở hạ tầng. Có cơ sở hạ tầng phát triển là một lợi thế để thu hút đầu tư nước ngoài trong môi trường cạnh tranh gay gắt.
Nguồn viện trợ không hoàn lại là cơ sở góp phần để nhà nước thực hiện các chính sách trên.