phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn có kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học QLNN về phát triển NNL giáo viên THCS Chƣơng 2: Thực trạng QLNN về phát triển NNL giáo viên THCS trên địa bàn huyện Hoa Lƣ, tỉnh Ninh Bình Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp QLNN về phát triển NNL giáo viên THCS trên địa bàn huyện Hoa Lƣ, tỉnh Ninh Bình 10 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 1. Nguồn nhân lực Khái niệm nguồn nhân lực (Tiếng Anh: Human resources) bắt đầu đƣợc sử dụng rộng rãi ở một số nƣớc có nền kinh tế phát triển trong những năm giữa thế kỷ XX, với ý nghĩa là nguồn lực con ngƣời, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò của yếu tố con ngƣời trong quá trình phát triển. Nội hàm NNL không chỉ bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lƣợng mà nó còn có ý nghĩa rộng hơn.
Đây là một khái niệm phức tạp và đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau. Theo Liên Hiệp Quốc “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” [45, tr. Trƣớc đây, nghiên cứu về nguồn lực con ngƣời, các nhà nghiên cứu thƣờng nhấn mạnh đến chất lƣợng và vai trò của nó trong phát triển kinh tế, xã hội. Nó đƣợc coi là một phƣơng tiện hữu hiệu đảm bảo cho tốc độ tăng trƣởng kinh tế bền vững.
Ngày nay, NNL còn bao hàm cả khía cạnh về số lƣợng, không chỉ những ngƣời trong độ tuổi lao động mà cả những ngƣời ngoài độ tuổi lao động. Ở nƣớc ta, khái niệm NNL đƣợc sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, với nhiều cách tiếp cận, nhìn nhận khác nhau. Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động 11 Luan van được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [17, tr. Nguyễn Hữu Dũng thì NNL “được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội.
Ở góc độ thứ nhất, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Xem xét NNL dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển NNL để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của NNL thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe. Có thể nói, theo cách tiếp cận hiện đại, NNL có một nội hàm rộng lớn, gồm các yếu tố cấu thành về số lƣợng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo cũng nhƣ truyền thống lịch sử và văn hóa. Điều 3, Bộ Luật Lao động năm 2012 định nghĩa: “Người lao động là người đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động” [31, tr.
Nhƣ vậy, ở dạng khái quát nhất, nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ những người lao động đang có khả năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, trong đó mỗi cá thể người lao động là tổng thể hài hòa giữa các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc. Phát triển nguồn nhân lực NNL đƣợc coi là một dạng tài nguyên đặc biệt, chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Bởi vậy, phát triển NNL là việc làm 12 Luan van tất yếu nhằm gia tăng giá trị nguồn lực đặc biệt này. Tổ chức Lao động quốc tế ILO cho rằng phát triển NNL bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng nhƣ thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.
Phát triển NNL cũng chính là nâng cao vai trò của nguồn lực con ngƣời trong sự phát triển kinh tế - xã hội, qua đó làm gia tăng giá trị của con ngƣời. Chính vì vậy, phát triển NNL đòi hỏi phải có sự quan tâm và can thiệp của nhà nƣớc bằng các phƣơng pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao sức lao động xã hội nhằm đáp ứng đòi hỏi về NNL cho sự phát triển kinh tế xã hội cho từng giai đoạn phát triển. Phát triển NNL cũng chính là phát triển đội ngũ với ba vấn đề cần đƣợc quan tâm: Một là, xây dựng đội ngũ (bao gồm quy hoạch, tuyển dụng, sắp xếp, bố trí). Hai là, sử dụng đội ngũ (bao gồm triển khai việc thực hiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ và đánh giá, sàng lọc).
Ba là, phát triển đội ngũ (bao gồm việc thực hiện các chế độ chính sách đối với đội ngũ, quan tâm thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dƣỡng, tạo môi trƣờng thuận lợi cho đội ngũ phát huy tiềm năng). Nhƣ vậy có thể hiểu: Phát triển NNL là quá trình làm gia tăng giá trị cho con người, bao hàm cả vật chất, tinh thần và kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội. Giáo viên, giáo viên trung học cơ sở và yêu cầu đối với giáo viên trung học cơ sở 1. Giáo viên và giáo viên trung học cơ sở Giáo viên, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (1998) “là 13 Luan van người dạy học ở bậc phổ thông hoặc tương đương” [42, tr.
Theo Điều 70, Luật Giáo dục năm 2005, “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, các cơ sở giáo dục khác”, “Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên” [32, tr. Theo Điều 30, Điều lệ Trƣờng Trung học cơ sở, Trƣờng Trung học phổ thông và Trƣờng Trung học phổ thông có nhiều cấp học, thì giáo viên trƣờng trung học đƣợc định nghĩa là “người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường gồm: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, giáo viên làm công tác Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (Bí thư, Phó Bí thư hoặc trợ lý thanh niên, cố vấn Đoàn) đối với trường trung học có cấp THPT, giáo viên làm tổng phụ trách Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh (đối với trường trung học có cấp tiểu học hoặc cấp THCS) [6, tr. Nhƣ vậy, giáo viên là người làm nhiệm vụ dạy học trong các nhà trường và cơ sở giáo dục tương đương. Giáo viên THCS là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong trường THCS.
Yêu cầu đối với nguồn nhân lực giáo viên trung học cơ sở Năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tƣ số 30/2009/TT-BGDDT quy định Chuẩn nghề nghiệp Giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông. Đây là cơ sở để giáo viên trung học có thể tự đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lực nghề nghiệp, từ đó xây dựng kế hoạch rèn luyện phẩm chất đạo đức và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Đồng thời làm cơ sở để đánh giá, xếp loại giáo viên hằng năm phục vụ công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng và sử dụng đội ngũ giáo viên trung học; là cơ sở để xây dựng, phát triển chƣơng trình đào tạo, bồi dƣỡng giáo viên trung học; làm cơ sở để nghiên cứu, đề xuất và thực hiện chế độ chính sách đối với giáo viên trung học. 14 Luan van Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS bao gồm các yêu cầu về: phẩm chất, chính trị, lối sống; năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục; năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực hoạt động chính trị, xã hội; năng lực phát triển nghề nghiệp.
Bên cạnh đó, để trở thành một giáo viên giỏi, một nhà giáo theo chuẩn mới, đáp ứng đƣợc yêu cầu của sự nghiệp đổi mới toàn diện giáo dục, thì mỗi giáo viên phải trang bị cho mình kỹ năng sƣ phạm toàn diện cũng nhƣ nền tảng sức khỏe tốt. Trong thế giới hiện đại, tri thức ngày càng đƣợc coi trọng, những kiến thức ngƣời giáo viên đƣợc trang bị với tƣ cách là một sinh viên sƣ phạm chỉ là cơ sở ban đầu cho quá trình không ngừng tự học, tự nghiên cứu, tự làm giàu kiến thức cho bản thân. Cũng trong quá trình nâng cao và hoàn thiện kỹ năng sƣ phạm, thì các kỹ năng về sử dụng công nghệ thông tin, khai thác nguồn tri thức nhân loại qua internet hay sử dụng ngoại ngữ mang tính bắt buộc. Phát triển giáo viên trung học cơ sở Phát triển, theo Từ điển Tiếng Việt (1998) của Viện Ngôn ngữ học “là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp” [42, tr.
Còn theo quan điểm triết học thì phát triển là một quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, theo đó cái cũ biến mất và cái mới ra đời. Nhƣ vậy, phát triển là sự vận động đi lên của mọi sự vật và hiện tƣợng tuân theo những quy luật nội tại khách quan của chúng. NNL giáo viên THCS là một bộ phận của NNL giáo dục, cũng là một đối tƣợng tuân theo quy luật của sự biến đổi, phát triển.