Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu hệ sinh thái rừng nhiệt đới trù phú với hơn 3.830 loài cây có dược tính trong tổng số trên 7.000 loài thực vật bậc cao được mô tả. Tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, tỉnh Quảng Nam là trung tâm đa dạng sinh học với 832 loài cây dược liệu thuộc 593 chi và 190 họ, trong đó có tới ba phần tư là các loài mọc tự nhiên dưới tán rừng. Huyện Nam Trà My là địa bàn vùng cao trọng điểm với diện tích tự nhiên 82.638,27 ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt gần 60%, độ cao trung bình từ 1.000 mét đến 1.500 mét so với mực nước biển. Toàn huyện có 10 đơn vị hành chính cấp xã với hơn 97% dân số là đồng bào các dân tộc thiểu số như Xêđăng, Cadong, Bh'nông. Địa phương lưu giữ trên 300 loài cây thuốc quý, tiêu biểu như Sâm Ngọc Linh, Quế Trà My, Đảng sâm, Sa nhân tím, Giảo cổ lam và Lan kim tuyến.

Dù có tiềm năng lớn, Nam Trà My từng nằm trong nhóm 62 huyện nghèo nhất cả nước với tỷ lệ hộ nghèo lên tới 70,89% vào năm 2015. Vấn đề nghiên cứu then chốt của luận văn tập trung vào mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và thực trạng quản lý nhà nước còn nhiều lúng túng, phương thức canh tác tự phát, thu hái non làm suy giảm dược tính và nguy cơ cạn kiệt nguồn gen đặc hữu. Mục tiêu nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về phát triển dược liệu tại huyện Nam Trà My giai đoạn 2015 - 2021, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý hành chính gắn với mục tiêu giảm nghèo bền vững. Ý nghĩa của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế giao khoán môi trường rừng, nâng tỷ lệ sống cây giống đạt từ 85% đến 90% và thúc đẩy thương mại hóa nông sản vùng cao.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý hành chính nhà nước và lý thuyết phát triển kinh tế sinh thái bền vững. Hai lý thuyết này tạo nên khung phân tích toàn diện về vai trò điều tiết của bộ máy công quyền đối với việc khai thác, bảo tồn tài nguyên rừng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mô hình nghiên cứu cấu thành từ 4 yếu tố then chốt: Chủ thể quản lý (chính quyền địa phương và cơ quan chuyên môn nông nghiệp), Khách thể quản lý (các quan hệ xã hội trong chuỗi giá trị dược liệu), Phương thức quản lý (kết hợp mệnh lệnh hành chính, đòn bẩy kinh tế và giáo dục thuyết phục) và Mục tiêu phát triển (mở rộng quy mô, chuyển dịch cơ cấu, nâng cao chất lượng dược liệu và bảo vệ môi trường sinh thái).

Hệ thống khái niệm nền tảng được xác lập gồm: Cây dược liệu (loài thực vật có hoạt chất sinh học dùng trong phòng bệnh, chữa bệnh hoặc bồi bổ sức khỏe); Quản lý nhà nước về phát triển cây dược liệu (hoạt động thực thi quyền lực công bằng pháp luật nhằm định hướng quy hoạch, bảo tồn nguồn gen, kiểm soát giống, khai thác và tiêu thụ sản phẩm); Quy mô dược liệu (chỉ tiêu đo lường độ lớn diện tích canh tác và giá trị sản lượng); Hiệu quả quản lý nhà nước (thước đo tổng hợp giữa chi phí vận hành bộ máy với kết quả tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an ninh trật tự và nâng cao đời sống nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được tổng hợp từ hai kênh chính: dữ liệu thứ cấp gồm các văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp và các báo cáo tổng kết ngành nông nghiệp giai đoạn 2015 - 2021; dữ liệu sơ cấp thu thập qua các đợt khảo sát thực tế tại các vùng trồng dược liệu tập trung. Cỡ mẫu nghiên cứu bao phủ toàn bộ 10 xã của huyện Nam Trà My, khảo sát chuyên sâu tại 533 hộ gia đình trực tiếp tham gia các chương trình hỗ trợ cây giống và 390 học viên tham gia các khóa đào tạo nghề nông nghiệp dưới tán rừng.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu theo mục đích kết hợp chọn mẫu thuận tiện, tập trung vào 3 xã trọng điểm có diện tích dược liệu tự nhiên lớn nhất gồm Trà Linh, Trà Nam và Trà Cang. Đề tài sử dụng phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh đối chiếu số liệu theo chuỗi thời gian. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này nhằm bảo đảm tính khách quan, khoa học, giúp nhận diện rõ sự tương thích giữa hệ thống chính sách ban hành với kết quả thực thi trên thực địa vùng cao đặc thù.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, công tác hỗ trợ phát triển trồng mới dược liệu đã đạt được bước nhảy vọt về quy mô và hiệu quả kinh tế. Trong giai đoạn 5 năm từ năm 2016 đến năm 2020, huyện Nam Trà My đã triển khai hỗ trợ trồng mới tổng cộng 174,546 ha dược liệu, trong đó cây Đảng sâm chiếm 100,8 ha và Sa nhân tím đạt 73,746 ha. Tỷ lệ cây sống ban đầu sau nghiệm thu luôn đạt mức ổn định từ 85% đến 90%, phản ánh quy trình kỹ thuật gieo trồng dưới tán rừng đã được chuyển giao thành công cho người dân.

Thứ hai, công tác quy hoạch bảo tồn nguồn gen gốc và phát triển diện tích tự nhiên được thiết lập vững chắc. Toàn huyện đã khoanh nuôi, bảo tồn chuyển chỗ và tại chỗ được 3.688 ha Quế Trà My (trong đó nhân dân tự bảo tồn 2.767 ha, Nhà nước hỗ trợ 921 ha), khoảng 1.600 ha Sâm Ngọc Linh và 366 ha các loài cây dược liệu khác. Trại ươm giống dược liệu huyện có quy mô 2,5 ha tại thôn 3 xã Trà Nam đạt công suất gieo ươm trên 800.000 cây giống mỗi năm. Trại giống Sâm Ngọc Linh tại Tắk Ngo (xã Trà Linh) bảo tồn 2 ha với hơn 30.000 cây gốc sạch bệnh.

Thứ ba, sự tham gia của cộng đồng dân cư mở rộng nhanh chóng theo từng năm. Năm 2016 chỉ có 14 hộ tại 3 xã được hỗ trợ với kinh phí 108,24 triệu đồng, đến năm 2019 số lượng đã tăng lên 533 hộ tại 9 xã với kinh phí hỗ trợ đạt trên 1,1 tỷ đồng (tăng gấp hơn 38 lần về số hộ tham gia và gấp 10 lần về quy mô vốn hỗ trợ).

+-------------------------------------------------------------------------+
|     DIỆN TÍCH TRỒNG MỚI DƯỢC LIỆU HUYỆN NAM TRÀ MY (2016 - 2020)        |
|                                                                         |
|  Năm 2016:  2,646 ha  (14 hộ, 3 xã)                                     |
|  Năm 2017: 31,424 ha  (140 hộ, 5 xã)                                    |
|  Năm 2018: 45,000 ha  (416 hộ, 7 xã)                                    |
|  Năm 2019: 42,500 ha  (533 hộ, 9 xã)                                    |
|  Năm 2020: 53,176 ha  (287 hộ, 6 xã)                                    |
|                                                                         |
|  Tổng diện tích 5 năm: 174,546 ha (Đảng sâm: 100,8 ha; Sa nhân: 73,7 ha)|
+-------------------------------------------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Kết quả khả quan trên bắt nguồn từ sự chỉ đạo nhất quán thông qua các văn bản pháp lý then chốt như Quyết định số 1976/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định số 65/2017/NĐ-CP và Nghị quyết số 39/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam. Sự lồng ghép khéo léo nguồn vốn từ Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo theo Nghị quyết 30a đã tạo bước đệm sinh kế thiết thực cho các hộ đồng bào Cadong và Xêđăng. Khi phân tích bảng tổng hợp diện tích qua các năm, đồ thị tăng trưởng phản ánh rõ cơ cấu ưu tiên cho Đảng sâm và Sa nhân tím nhờ chi phí giống thấp và chu kỳ thu hoạch ngắn, giúp giải quyết nhu cầu thu nhập trước mắt cho người dân.

Mặc dù vậy, nghiên cứu chỉ ra chuỗi giá trị dược liệu tại huyện vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Hoạt động chế biến đa phần ở mức sơ chế thô, việc chiết xuất sâu để tạo sản phẩm giá trị gia tăng cao như cao lỏng, trà hòa tan hay thực phẩm chức năng còn rất khiêm tốn. Tình trạng người dân thu hái tự nhiên khi cây chưa đủ tuổi vẫn lặp lại ở một số vùng xa. So sánh với các trung tâm dược liệu lớn ở miền núi phía Bắc, huyện Nam Trà My còn thiếu các hợp đồng liên kết bao tiêu dài hạn giữa doanh nghiệp chế biến dược phẩm với nông dân, đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới công tác xúc tiến đầu tư và kiểm soát xuất xứ thương phẩm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế thể chế và đơn giản hóa thủ tục hành chính về giao đất, cho thuê môi trường rừng. Ủy ban nhân dân huyện Nam Trà My cần phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng quy trình cấp phép minh bạch, phấn đấu đến năm 2025 hoàn thành giao khoán 100% diện tích rừng tự nhiên đủ điều kiện cho các hộ dân và doanh nghiệp phát triển dược liệu theo đúng Luật Lâm nghiệp.

Thứ tư, nâng cấp hạ tầng khoa học công nghệ và mở rộng mạng lưới vườn ươm giống đạt chuẩn. Phòng Nông nghiệp huyện chỉ đạo Trung tâm Kỹ thuật Nông nghiệp mở rộng Trại ươm dược liệu Trà Nam từ 2,5 ha lên 4 ha, nâng công suất cung ứng đạt trên 1.200.000 cây giống sạch bệnh mỗi năm trong giai đoạn 2022 - 2025; đồng thời ứng dụng công nghệ giám sát vạn vật kết nối (IoT) để bảo tồn 30.000 cây sâm gốc tại xã Trà Linh.

Thứ ba, ban hành chính sách kích cầu đầu tư và phát triển mạng lưới chế biến sâu. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam và huyện Nam Trà My cần triển khai các gói hỗ trợ thuế đất, vốn vay ưu đãi nhằm thu hút ít nhất 3 đến 5 doanh nghiệp dược phẩm quy mô xây dựng nhà máy sơ chế, chế biến đạt tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt (GMP) trước năm 2030, đa dạng hóa các sản phẩm tinh chế từ Quế và Đảng sâm.

Thứ tư, tăng cường thanh tra thị trường và kiểm soát an ninh trật tự vùng trồng. Lực lượng Công an huyện kết hợp với Kiểm lâm địa bàn và Ủy ban nhân dân 10 xã thiết lập chốt kiểm soát lưu động, gắn mã QR truy xuất nguồn gốc cho 100% sản phẩm sâm và quế thương mại, xử lý nghiêm minh các hành vi trộm cắp dược liệu quý và buôn bán sâm giả nhằm bảo vệ thương hiệu quốc gia.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã, Ban Quản lý rừng phòng hộ và cán bộ các phòng chuyên môn sử dụng luận văn làm tài liệu định hướng xây dựng quy hoạch, ban hành cơ chế giao khoán môi trường rừng và tổ chức các chương trình hỗ trợ cây giống nông nghiệp.
  2. Doanh nghiệp và hợp tác xã kinh doanh dược liệu: Các đơn vị sản xuất, kinh doanh nắm bắt rõ khung khổ pháp lý, quy hoạch vùng nguyên liệu và chính sách ưu đãi đầu tư để xây dựng dự án liên kết sản xuất chuỗi giá trị đạt chuẩn thực hành tốt nuôi trồng và thu hái (GACP-WHO).
  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên ngành Luật, Quản lý công: Luận văn cung cấp khung phân tích pháp lý hành chính chuẩn mực, hệ thống dữ liệu thực chứng tin cậy và các bài học kinh nghiệm về quản lý tài nguyên lâm sản ngoài gỗ.
  4. Cán bộ khuyến nông và các tổ chức phát triển cộng đồng: Nắm vững phương pháp chuyển giao kỹ thuật gieo trồng dưới tán rừng, mô hình đào tạo nghề cho 390 học viên và phương thức huy động hơn 500 hộ nghèo tham gia thoát nghèo bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Quản lý nhà nước về phát triển cây dược liệu tại cấp huyện bao gồm những nhiệm vụ trọng tâm nào? Quản lý nhà nước cấp huyện tập trung vào việc cụ thể hóa quy hoạch phát triển dược liệu của tỉnh, lập phương án hỗ trợ cây giống, tổ chức thẩm định việc giao khoán và cho thuê môi trường rừng, đào tạo kỹ thuật gieo trồng cho nông dân, đồng thời thanh tra kiểm soát chất lượng và bảo đảm an ninh trật tự vùng trồng.

Câu hỏi 2: Diện tích trồng mới và kết quả hỗ trợ cây dược liệu tại huyện Nam Trà My giai đoạn 2016 - 2020 đạt được những con số nào? Trong giai đoạn 2016 - 2020, toàn huyện hỗ trợ trồng mới được 174,546 ha dược liệu, gồm 100,8 ha Đảng sâm và 73,746 ha Sa nhân tím. Tỷ lệ cây sống đạt từ 85% đến 90%. Số hộ thụ hưởng chính sách tăng từ 14 hộ năm 2016 lên 533 hộ vào năm 2019.

Câu hỏi 3: Hệ thống vườn ươm công lập đóng vai trò gì trong chuỗi phát triển dược liệu tại Nam Trà My? Trại ươm 2,5 ha tại xã Trà Nam hàng năm gieo ươm trên 800.000 cây giống cung ứng cho nhân dân. Ngoài ra, Trại giống tại Tắk Ngo (xã Trà Linh) bảo tồn 2 ha với 30.000 cây Sâm Ngọc Linh gốc, đóng vai trò then chốt trong việc duy trì nguồn gen thuần chủng và cung cấp hạt giống chất lượng.

Câu hỏi 4: Khó khăn lớn nhất trong việc phát triển cây dược liệu tại huyện Nam Trà My hiện nay là gì? Những trở ngại lớn nhất gồm việc khai thác tự phát làm cạn kiệt dược liệu tự nhiên, khâu chế biến sâu còn đơn sơ chủ yếu xuất bán thô, tình trạng sâm giả trên thị trường tự do làm ảnh hưởng uy tín thương hiệu và thủ tục thuê môi trường rừng còn vướng mắc.

Câu hỏi 5: Chính sách hỗ trợ dược liệu đã góp phần giảm nghèo tại địa phương như thế nào? Chính sách hỗ trợ cây giống và tập huấn kỹ thuật cho hơn 500 hộ nghèo đã giúp biến đổi sinh kế, khai thác hiệu quả 3.688 ha quế và 1.600 ha sâm, góp phần quan trọng vào việc hạ nhanh tỷ lệ hộ nghèo của huyện từ mức 70,89% năm 2015 xuống các mức thấp hơn qua từng năm.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khung pháp lý hành chính về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực phát triển cây dược liệu tại vùng miền núi.
  • Phân tích sâu sắc bức tranh thực tế với 174,546 ha dược liệu trồng mới và hệ thống trại giống sản xuất trên 800.000 cây con mỗi năm tại Nam Trà My.
  • Đánh giá thẳng thắn những lỗ hổng trong chuỗi chế biến sâu, công tác quản lý thương hiệu và hiện tượng thu hái dược liệu non.
  • Kiến nghị 4 nhóm giải pháp đồng bộ về cơ chế giao thuê rừng, mở rộng trại ươm lên 4 ha, thu hút doanh nghiệp chế biến GMP và bảo vệ an ninh vùng sâm.
  • Đề ra lộ trình thực hiện cụ thể: giai đoạn 2022 - 2025 hoàn thiện mạng lưới giống và hạ tầng; giai đoạn 2025 - 2030 định hình chuỗi công nghiệp dược liệu xuất khẩu.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là làm sáng tỏ phương thức kết hợp giữa pháp luật hành chính và chính sách phát triển lâm nghiệp sinh thái, cung cấp luận cứ thực tiễn sắc bén cho chính quyền địa phương và các nhà làm luật. Để hiện thực hóa mục tiêu biến Nam Trà My thành thủ phủ dược liệu quốc gia, các cấp chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng khoa học hãy nhanh chóng tiếp cận, ứng dụng các kiến nghị của đề tài vào công tác quy hoạch và chỉ đạo điều hành thực tiễn.