CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ TRONG QLNN VỀ PHÁT TRIỂN CÂY DƯỢC LIỆU 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của QLNN về phát triển cây dược liệu 1. Khái niệm, đặc điểm của quản lý nhà nước về phát triển cây dược liệu Để đưa ra các kiểu về QLNN về phát triển cây dược liệu là gì trước hết cần làm rõ một số khái niệm sau: Khái niệm cây dược liệu Trong lịch sử phát triển có rất nhiều khái niệm về cây dược liệu được đưa ra: Xuất phát từ định nghĩa của y học cổ truyền được thực hiện bởi một nhóm các chuyên gia từ các khu vực châu Phi năm 1976 thì cây dược liệu một khái niệm được hiểu “Là nguyên liệu tự nhiên có nguồn gốc thực vật, động vật, khoáng vật và vi sinh vật dùng để điều chế thành thuốc chín và các dạng bào chế, cung cấp nguyên liệu cho ngành dược.” Cũng có một số tài liệu cho rằng: “Cây dược liệu là loại cây thuốc thuộc đông y, là một nguyên liệu không thể thiếu trong y học cổ truyền, và hơn thế, trong bối cảnh hội nhập, cây dược liệu còn là đầu vào của các công nghệ sản xuất thuốc tây y. Trong giáo trình cây dược liệu, Vũ Tuấn Minh lại lý giải về khái niệm cây dược liệu: “Cây dược liệu là những loài thực vật có tác dụng dùng để chữa bệnh hoặc bồi bổ cơ thể khi con người sử dụng”.
Việc dùng thuốc trong nhân dân ta đã có từ lâu đời. Từ thời nguyên thuỷ, tổ tiên chúng ta trong lúc tìm kiếm thức ăn, có khi ăn phải chất độc phát sinh nôn mửa hoặc rối loạn tiêu hoá, hoặc hôn mê có khi chết người, do đó cần có nhận thức phân biệt được loại nào ăn được, loại nào có độc không ăn được”. Kinh nghiệm dần dần tích lũy, không những giúp cho loài người biết lợi dụng tính chất của cây cỏ để làm thức ăn mà còn dùng để dùng làm thuốc chữa bệnh, hay dùng những vị có chất độc để chế tên thuốc độc dùng trong săn bắn hay 7 n trong lúc tự vệ chống ngoại xâm. Lịch sử nước ta cho biết ngay từ khi lập nước nhân dân ta đã biết chế tạo và sử dụng tên độc để chống lại kẻ thù.
Như vậy, việc phát minh ra thuốc đã có từ thời thượng cổ, trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, tìm tòi thức ăn mà có được. Nguồn gốc tìm ra thức ăn, thuốc và cây có chất độc chỉ là một. Về sau dần dần con người mới biết tổng kết và đặt ra lý luận. Hiện nay đi sâu và tìm hiểu những kinh nghiệm trong nhân dân Việt Nam cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới, con người đã sử dụng hàng vạn loài thực vật để làm thuốc.
Trong quá trình chữa bệnh bằng kinh nghiệm và hiểu biết của con người, đến ngày nay đã hình thành các khuynh hướng khác nhau, chúng ta có thể phân biệt hai loại người làm thuốc. Một loại chỉ có kinh nghiệm chữa bệnh, không biết hoặc ít biết lý luận. Kinh nghiệm đó cứ cha truyền con nối mà tồn tại, mà phát huy. Những người có khuynh hướng này chiếm chủ yếu tại các vùng dân tộc ít người.
Khuynh hướng thứ hai là những người có kinh nghiệm và có thêm phần lí luận, những người này chiếm chủ yếu ở thành thị và những người có cơ sở lí luận cho rằng vị Thần Nông là người phát minh ra thuốc. Truyền thuyết kể rằng: “Một ngày ông nếm 100 loài cây cỏ để tìm thuốc, ông đã gặp phải rất nhiều loài cây có độc nên có khi một ngày ngộ độc đến 70 lần”, rồi soạn ra sách thuốc đầu tiên gọi là “Thần Nông bản thảo”. Trong bộ này có ghi chép tất cả 365 vị thuốc và là bộ sách thuốc cổ nhất Đông Y (chừng 4000 năm nay). Như vậy, các khái niệm trên đều thống nhất với nhau là cây dược liệu là một loại cây thuốc; được sử dụng cho việc chế biến thành các loại thuốc cho đông y và cả tây y; được sử dụng để làm thuốc chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của con người.
Vì thế có thể nói: Cây dược liệu là những loài thực vật dùng để làm thuốc chữa bệnh hoặc bồi bổ cơ thể khi con người sử dụng. Phát triển cây dược liệu - Phát triển về quy mô cây dược liệu Quy mô của cây dược liệu phản ánh độ lớn của khu vực (hộ, doanh nghiệp) trồng cây dược liệu. Chỉ tiêu phản ánh quy mô cây dược liệu được đo bằng giá trị và hiện vật. 8 n Quy mô về giá trị cây dược liệu được đo lường thông qua chỉ tiêu giá trị sản lượng, tính bằng đơn vị tiền tệ.
Quy mô về hiện vật được đo lường thông qua diện tích trồng cây dược liệu, sản lượng cây dược liệu thu hoạch được. Phát triển về quy mô cây dược liệu thể hiện sự gia tăng về giá trị sản lượng hoặc gia tăng diện tích, gia tăng sản lượng cây dược liệu năm sau so với năm trước, thời kỳ sau so với thời kỳ trước. Các hộ, doanh nghiệp có quy mô trồng dược liệu lớn thường có ưu điểm về khả năng áp dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất, về tính chất chuyên môn hóa trong kinh doanh và khả năng cạnh tranh của khu vực (hộ, doanh nghiệp) đó. Tuy nhiên, các ưu việt của khu vực (hộ, doanh nghiệp) chỉ phát huy trong điều kiện trình độ của chủ khu vực (hộ, doanh nghiệp) ở mức độ thích ứng, các hoạt động quản trị kinh doanh được triển khai bài bản.
Các hộ, doanh nghiệp có quy mô nhỏ thường có ưu việt trong sự thích ứng của nền kinh tế thị trường và phù hợp với trình độ phát triển ở mức độ thấp, trong giai đoạn đầu phát triển. Tuy nhiên, sức cạnh tranh của các khu vực (hộ, doanh nghiệp) quy mô nhỏ ở mức độ thấp; khả năng áp dụng các thành tựu của khoa học và công nghệ hạn chế. Một là, với quy mô canh tác nhỏ, thì yêu cầu đầu tư cho đầu vào thấp nhưng lại tạo thu nhập thấp và chỉ cung cấp cho thị trường khu vực. Theo các nghiên cứu trước, đối với nông dân trồng canh tác cây dược liệu, nên kết hợp việc trồng cây dược liệu với nuôi trồng các loại cây con khác phù hợp nhằm đa dạng hóa sinh thái, tạo ra điều kiện phát triển tốt, phù hợp hơn cho sự phát triển của cây dược liệu nâng cao sản lượng và chất lượng, đồng thời, cũng có thêm thu nhập từ các loại cây trồng kết hợp nhằm tăng thu nhập để từ đó mở rộng quy mô.
Hai là, canh tác theo qui mô lớn, trồng và phát triển cây dược liệu trên diện rộng, phát triển quy mô lớn trồng dược liệu cho thị trường xuất khẩu. Nguồn vốn đầu tư sẽ khá lớn nhưng lại tạo ra được hiệu quả kinh tế cao hơn, góp phần cải thiện đời sống cho người dân nông thôn. Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO), trong số khoảng 250.000 loài thực vật đã biết, hiện có 35.000 loài thực vật được sử dụng làm thuốc ở các 9 n mức độ khác nhau tại các quốc gia. Có khoảng 2500 cây thuốc được buôn bán trên thế giới, có ít nhất 2000 cây thuốc được sử dụng ở Châu Âu, 1543 cây thuốc được sử dụng ở Đức, 1700 cây ở Ấn Độ, 5000 cây ở Trung Quốc.
có đến 90% loài thảo dược được thu hái hoang dại, nhưng nguồn cây thuốc tự nhiên ngày càng cạn kiệt. Các bộ phận dùng của cây thuốc cũng đa dạng. Tỷ lệ các bộ phận dùng được thể hiện ở biểu đồ sau: Hình 1.1: Tỷ lệ các bộ phận được sử dụng của cây thuốc Nguồn: Cục quản lý y dược cổ truyền, Bộ Y tế (2017) Hiện nay, chỉ có vài trăm loại cây thuốc được trồng trọt, khoảng 20 - 50 loài được trồng ở Ấn độ, 100 - 250 loài ở Trung Quốc, 40 loài ở Hungari, 130 - 140 loài ở Châu Âu. Phương pháp trồng truyền thống đang dần được thay thế bởi phương pháp trồng công nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của nguồn nguyên liệu này.
Theo thống kê của Viện Dược liệu - Cây thuốc Việt Nam, rừng Việt Nam với hơn 7.000 loài được mô tả thì có tới 3.830 loài có dược tính được sử dụng làm thuốc. Trong đó, có những cây thuốc và một số động vật loài quí hiếm chữa được những bệnh nan y và cũng là nguồn nguyên liệu phong phú để phát triển công 10 n nghiệp dược phẩm.000 loài được khai thác thì có tới 500 - 700 loài là sản phẩm từ rừng thuộc các tỉnh miền núi. Trong y học cổ truyền đã sử dụng 136 vị thuốc thì đã có 52 vị thuốc chủ yếu sử dụng nguồn dược liệu trong nước và khai thác từ rừng tự nhiên. Hầu hết các quốc gia đã biên soạn các chuyên khảo về cây thuốc trên quy mô toàn quốc hoặc vùng lãnh thổ.
Nhiều công trình nghiên cứu cây thuốc của các nước được sử dụng rộng rãi và có giá trị khoa học thực tiễn lớn. Điều tra, đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc được coi là có nhiệm vụ trọng tâm của tất cả các quốc gia. Cho đến nay nhiều tài liệu quý ghi chép kinh nghiệm sử dụng của người xưa vẫn còn lưu truyền tại Trung Quốc - quốc gia có truyền thống lâu đời trong việc sử dụng cây cỏ để trị bệnh. Trong tập “Thần nông bản thảo” chỉ rõ khoảng 5000 năm trước đây người Trung Hoa cổ đại đã sử dụng 365 vị thuốc và cây thuốc để phòng và chữa bệnh.
Vào đời nhà Hán (năm 168 trước CN) trong cuốn sách “Thủ Hậu cấp phương”, tác giả thống kê 52 đơn thuốc trị bệnh từ các loài cây cỏ. Tới giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân thống kê 1.200 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục”. Các tài liệu cổ xưa về sử dụng cây thuốc cũng được người Ai Cập cổ đại ghi chép cách đây khoảng 3600 năm trước với 800 cây thuốc và trên 700 bài thuốc. Người Ấn Độ cổ đại cách đây 2000 năm để lại tài liệu về công dụng của cây cỏ làm thuốc của người Hindu.
Các nhà thực vật người Pháp được coi là những người đầu tiên của Châu Âu nghiên cứu về thực vật Đông Nam Á, với họ sau những cánh rừng nhiệt đới còn tiềm ẩn rất nhiều giá trị. Vào những năm đầu thế kỷ XX, trong chương trình nghiên cứu về thực vật Đông Dương, Perry công bố 1.000 loài cây và dược liệu tại Đông Nam Á đã được kiểm chứng và gần đây (1985) tổng hợp thành cuốn sách “Medicinal Plants of Eats and Southeast Asia”,.