Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Quy Nhơn là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Bình Định với bề dày hơn 112 năm lịch sử phát triển đô thị và là đầu mối giao thương quan trọng của khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Tính đến năm 2020, toàn thành phố sở hữu mạng lưới 27 chợ phân bổ trên 19 phường, xã, đóng vai trò huyết mạch trong cung ứng hàng hóa dân sinh và giải quyết sinh kế cho 3.815 hộ tiểu thương. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống bán lẻ hiện đại như trung tâm thương mại, chuỗi siêu thị và dịch vụ bán hàng lưu động đang tạo nên áp lực cạnh tranh gay gắt. Đồng thời, phần lớn các chợ truyền thống trên địa bàn đã vận hành từ 15 đến 30 năm, dẫn đến sự xuống cấp nghiêm trọng về cơ sở hạ tầng, nguy cơ cháy nổ cao và điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đáp ứng kịp thời thị hiếu người tiêu dùng. Đội ngũ nhân lực quản lý tại cơ sở còn nhiều hạn chế, chủ yếu điều hành dựa trên kinh nghiệm thực tế mà thiếu đào tạo bài bản.

Xuất phát từ thực tiễn đó, luận văn tập trung làm rõ thực trạng công tác quản lý nhà nước về hệ thống chợ, nhận diện những điểm nghẽn thể chế và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý mạng lưới thương mại truyền thống trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định trong giai đoạn thời gian 2016 - 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hoàn thiện 3 mô hình quản lý chợ, góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân 12,4% mỗi năm, thúc đẩy ngành dịch vụ tăng 13% và hỗ trợ nguồn thu ngân sách thành phố hàng năm đều vượt chỉ tiêu trên 5%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế thương mại kết hợp với lý thuyết phát triển kết cấu hạ tầng phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống lý luận vận dụng các văn bản quy phạm pháp luật cốt lõi gồm Nghị định số 02/2003/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ, Nghị định số 114/2009/NĐ-CP sửa đổi bổ sung và Văn bản hợp nhất số 11/VBHN-BCT năm 2014 của Bộ Công Thương.

Khung phân tích tập trung vào 4 khái niệm nền tảng: Thứ nhất, hệ thống chợ là mạng lưới thương mại truyền thống có mối liên kết hữu cơ về không gian lãnh thổ, tương tác đa chiều với các kênh phân phối hiện đại và chuỗi cung ứng sản xuất. Thứ hai, phân hạng chợ theo tiêu chuẩn quy mô kỹ thuật: chợ hạng 1 có trên 400 điểm kinh doanh, chợ hạng 2 có từ 200 đến 400 điểm kinh doanh và chợ hạng 3 có dưới 200 điểm kinh doanh. Thứ ba, các hình thức kiến trúc xây dựng gồm chợ kiên cố có niên hạn sử dụng trên 10 năm, chợ bán kiên cố dưới 10 năm và chợ tạm. Thứ tư, quản lý nhà nước về hệ thống chợ là quá trình cơ quan công quyền sử dụng pháp luật, quy hoạch và chính sách kinh tế để định hướng, điều chỉnh hành vi của các chủ thể kinh doanh, duy trì trật tự thị trường và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu hệ thống kết hợp giữa phương pháp logic - lịch sử và kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích tổng hợp từ nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2016 - 2020.

Về cỡ mẫu nghiên cứu, đề tài thu thập và xử lý số liệu toàn diện từ 27 chợ trên địa bàn 19 phường, xã của thành phố Quy Nhơn, bao quát thông tin hoạt động của 3.815 hộ tiểu thương, trong đó có 3.322 hộ kinh doanh cố định và 493 hộ kinh doanh không cố định.

Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được ưu tiên sử dụng nhằm đảm bảo tính bao quát, phản ánh đúng đặc thù quản lý của từng phân khúc từ 4 chợ hạng 1 trung tâm, 3 chợ hạng 2 đến 20 chợ hạng 3 tại các vùng nội thành và bán đảo ngoại ô.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê so sánh đối chiếu là nhằm đo lường biến động cơ học và tốc độ tăng trưởng 58,82% của mạng lưới chợ qua 5 năm. Đồng thời, phương pháp này cho phép đánh giá mức độ tương thích giữa việc triển khai Quyết định số 102/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định về quy hoạch phát triển thương mại với kết quả quản lý thực tế tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực trạng giai đoạn 2016 - 2020 ghi nhận 4 phát hiện nổi bật:

Thứ nhất, quy mô mạng lưới chợ có sự mở rộng vượt bậc. Năm 2016, toàn thành phố có 17 chợ với cơ cấu gồm 11,76% chợ hạng 1, 17,65% chợ hạng 2 và 70,59% chợ hạng 3. Đến năm 2020, tổng số chợ tăng lên 27 đơn vị, đạt tốc độ tăng trưởng 58,82% so với năm 2016. Cơ cấu chuyển dịch tích cực với 4 chợ hạng 1 chiếm 14,81%, 3 chợ hạng 2 chiếm 11,11% và 20 chợ hạng 3 chiếm 74,07%.

Thứ hai, việc tổ chức quản lý vận hành tồn tại đồng thời 3 mô hình. Toàn địa bàn có 21 ban quản lý và 6 tổ quản lý. Trong 4 chợ hạng 1, có 2 chợ do Ủy ban nhân dân thành phố trực tiếp quản lý là Chợ Đầm với 334 hộ cố định và Chợ Khu 6 với 288 hộ cố định; 2 chợ hạng 1 được xã hội hóa đầu tư chuyển giao cho doanh nghiệp khai thác là Chợ Lớn Mới với tổng vốn 33,53 tỷ đồng (357 hộ cố định) và Chợ Dinh với 34 tỷ đồng (317 hộ cố định). Đối với 23 chợ hạng 2 và hạng 3, Ủy ban nhân dân các phường, xã trực tiếp điều hành thông qua hình thức đấu thầu hoặc giao khoán thu chi.

Thứ ba, hạ tầng kỹ thuật tại nhiều chợ cơ sở còn nhiều bất cập. Phần lớn 20 chợ hạng 3 xây dựng bán kiên cố có thời gian khai thác từ 15 đến 30 năm, hệ thống thu gom nước thải, vệ sinh môi trường và thiết bị phòng cháy chữa cháy chưa đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật.

Thứ tư, nguồn nhân lực quản trị chợ thiếu tính chuyên nghiệp. Cán bộ quản lý tại các phường, xã chủ yếu là công chức kiêm nhiệm hoặc điều động chéo ngành, chưa qua các khóa bồi dưỡng chuyên sâu về quản lý khai thác thương mại văn minh.

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng chợ khẳng định nỗ lực thực thi quy hoạch thương mại theo Quyết định số 09/2005/QĐ-UB và Quyết định số 102/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định nhằm đáp ứng mức tăng trưởng kinh tế dịch vụ 13% mỗi năm. Các dữ liệu thực chứng này được trình bày trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện biến động số lượng chợ qua các mốc 2016, 2018, 2020 và bảng thống kê chi tiết quy mô vốn đầu tư, diện tích mặt bằng cùng cơ cấu hộ kinh doanh.

Đối chiếu với kinh nghiệm từ các địa phương khác, tỉnh Thanh Hóa đã huy động được 775 tỷ đồng vốn xã hội hóa để chuyển đổi thành công 67 chợ, còn quận Bình Thạnh tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tăng thu nộp ngân sách gấp 10 lần nhờ áp dụng cơ chế đấu thầu doanh nghiệp quản lý thay vì bao cấp. Qua so sánh, thành phố Quy Nhơn mới chỉ thu hút xã hội hóa thành công tại 2 công trình chợ trung tâm, trong khi 23 chợ cấp xã, phường vẫn phụ thuộc lớn vào ngân sách địa phương. Trước áp lực cạnh tranh từ các kênh bán lẻ hiện đại, mô hình chợ truyền thống tại Quy Nhơn cần nhanh chóng chuyển đổi cơ chế quản trị sang hướng tự chủ doanh nghiệp và đẩy mạnh số hóa giao dịch.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với mạng lưới chợ thương mại, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, rà soát và điều chỉnh quy hoạch mạng lưới 27 chợ trên địa bàn 19 phường, xã. Ủy ban nhân dân thành phố Quy Nhơn chủ trì thực hiện giai đoạn 2021 - 2025, phấn đấu 100% chợ được nâng cấp đồng bộ theo tiêu chuẩn đô thị loại I và kiên quyết giải tỏa triệt để các tụ điểm chợ cóc, chợ tạm lấn chiếm lòng lề đường.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế chính sách và đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư. Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định ban hành quy chế đấu thầu khai thác chợ minh bạch, chuyển đổi các Ban quản lý sang mô hình Doanh nghiệp hoặc Hợp tác xã, phấn đấu nâng tỷ lệ chợ xã hội hóa lên trên 50% vào năm 2025.

Thứ ba, kiện toàn bộ máy và chuẩn hóa nghiệp vụ nguồn nhân lực. Sở Công Thương phối hợp với các cơ sở đào tạo của Bộ Công Thương tổ chức định kỳ 2 đến 3 khóa tập huấn nghiệp vụ chuyên sâu mỗi năm, đảm bảo 100% cán bộ phụ trách ban quản lý và tổ quản lý chợ được bồi dưỡng kiến thức pháp luật thương mại.

Thứ tư, siết chặt kiểm tra an toàn kỹ thuật, an toàn thực phẩm và trật tự kinh doanh. Đội kiểm tra liên ngành thành phố tiến hành thanh tra định kỳ hàng tháng, phấn đấu 100% hộ kinh doanh trong tổng số 3.322 hộ cố định ký cam kết thực hiện văn minh thương mại, niêm yết giá công khai và chấp hành nghiêm quy định phòng cháy chữa cháy.

Thứ năm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong vận hành. Ban quản lý các chợ phối hợp các đơn vị cung ứng dịch vụ triển khai hạ tầng thanh toán không dùng tiền mặt qua ví điện tử và gắn mã phản hồi nhanh truy xuất nguồn gốc cho trên 80% quầy hàng nông sản tươi sống trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật và thực tiễn chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ ngành Công Thương. Đề tài cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn giúp Sở Công Thương, Phòng Kinh tế Ủy ban nhân dân thành phố Quy Nhơn cùng chính quyền 19 phường, xã xây dựng chiến lược phát triển hạ tầng bán lẻ và ban hành quy chế đấu thầu khai thác chợ tối ưu.

Thứ hai, các doanh nghiệp và hợp tác xã thương mại dịch vụ. Nghiên cứu phân tích chi tiết bài học từ các dự án xã hội hóa với tổng mức đầu tư trên 67 tỷ đồng tại Chợ Dinh và Chợ Lớn Mới, mang lại cẩm nang thực chứng để các nhà đầu tư lập phương án tài chính, tham gia đấu thầu và tổ chức khai thác điểm kinh doanh hiệu quả.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển và Quản trị kinh doanh. Công trình cung cấp chuỗi số liệu thứ cấp chuẩn xác trong 5 năm (2016 - 2020) cùng phương pháp tiếp cận đa chiều về tái cấu trúc thương mại truyền thống.

Thứ tư, ban quản lý chợ và các tổ chức đại diện tiểu thương tại các đô thị. Tài liệu hỗ trợ các nhà quản lý cơ sở hoàn thiện quy chế quản trị nội bộ cho 3.815 hộ tiểu thương, nâng cao kỹ năng kiểm soát an toàn phòng cháy chữa cháy, an toàn thực phẩm và thúc đẩy chuyển đổi số điểm bán.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng quy mô và phân hạng mạng lưới chợ tại thành phố Quy Nhơn hiện nay ra sao? Tính đến cuối năm 2020, toàn thành phố có 27 chợ đang hoạt động tại 17 trên 19 phường, xã, gồm 4 chợ hạng 1, 3 chợ hạng 2 và 20 chợ hạng 3. Hệ thống phục vụ 3.322 hộ tiểu thương kinh doanh cố định và 493 hộ buôn bán không thường xuyên, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thường nhật của người dân đô thị.

Tại sao cần chuyển đổi mô hình Ban quản lý chợ sang Doanh nghiệp hoặc Hợp tác xã? Mô hình Ban quản lý dạng đơn vị sự nghiệp bộc lộ nhiều điểm nghẽn về ngân sách bảo trì và năng lực quản trị. Chuyển đổi sang doanh nghiệp giúp thu hút nguồn vốn đầu tư xã hội hóa lớn như 34 tỷ đồng tại Chợ Dinh, giảm chi ngân sách và tăng nguồn thu thuế cho địa phương.

Hạ tầng các chợ truyền thống trên địa bàn thành phố đang gặp phải những hạn chế gì? Đa số các chợ hạng 3 có tuổi đời từ 15 đến 30 năm, cơ sở vật chất xuống cấp, nền chợ ẩm ướt và thiếu hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn. Đặc biệt, hệ thống phòng cháy chữa cháy tại nhiều chợ chưa đảm bảo quy chuẩn, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cao.

Quy hoạch phát triển chợ thành phố Quy Nhơn giai đoạn 2016 - 2020 đạt kết quả nổi bật nào? Mạng lưới chợ đạt tốc độ tăng trưởng 58,82%, tăng từ 17 chợ năm 2016 lên 27 chợ năm 2020. Tỷ trọng chợ hạng 1 tăng lên 14,81%, góp phần hoàn thiện hạ tầng thương mại đô thị loại I và hỗ trợ ngành dịch vụ thành phố duy trì mức tăng trưởng 13% mỗi năm.

Tiểu thương chợ truyền thống cần làm gì để giữ vững sức cạnh tranh với siêu thị hiện đại? Tiểu thương cần chủ động nâng cao văn minh giao tiếp, niêm yết giá bán rõ ràng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và tích cực áp dụng phương thức thanh toán chuyển khoản qua ví điện tử cùng mã QR truy xuất nguồn gốc nhằm củng cố lòng tin của khách hàng.

Kết luận

  • Hệ thống hóa khung lý thuyết và cơ sở pháp lý về quản lý nhà nước đối với mạng lưới chợ đô thị theo các quy định hiện hành của Chính phủ và Bộ Công Thương.
  • Phân tích bức tranh thực trạng toàn diện của 27 chợ tại thành phố Quy Nhơn giai đoạn 2016 - 2020 với mức tăng trưởng mạng lưới đạt 58,82%.
  • Nhận diện ưu nhược điểm của 3 mô hình quản lý thực tế, khẳng định vai trò đòn bẩy của chính sách xã hội hóa thông qua các dự án Chợ Dinh và Chợ Lớn Mới.
  • Xây dựng 5 nhóm giải pháp đồng bộ về thể chế, quy hoạch, nhân lực, an toàn kỹ thuật và công nghệ số cho giai đoạn 2021 - 2025.
  • Đóng góp nguồn dữ liệu khoa học tin cậy giúp các cơ quan quản lý hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế thương mại đô thị loại I.

Để đưa mạng lưới chợ truyền thống Quy Nhơn phát triển văn minh, hiện đại và bền vững, các cấp chính quyền cùng các nhà đầu tư cần nhanh chóng phối hợp thực hiện đồng bộ các giải pháp đã đề xuất trong thời gian tới.