Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Văn bản quản lý nhà nước là công cụ phương tiện để các cơ quan công quyền thực hiện chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được pháp luật quy định. Mọi giao dịch nội bộ giữa các cơ quan nhà nước cũng như giữa cơ quan nhà nước với tổ chức, cá nhân đều được liên kết thông qua hệ thống văn bản. Đặc biệt, văn bản quản lý hành chính nhà nước cấp trung ương (do Chính phủ và các Bộ ban hành) mang tính điều hành vĩ mô, tác động đến toàn xã hội hoặc từng ngành, từng lĩnh vực chuyên biệt. Do đó, chất lượng của văn bản quyết định trực tiếp đến hiệu lực và hiệu quả quản lý điều hành xã hội.
Để nâng cao chất lượng văn bản, công tác soạn thảo đòi hỏi việc phân tích sâu sắc các đặc trưng ngôn ngữ, kết cấu hình thức, tổ chức nội dung và tính mạch lạc. Trong ngôn ngữ học hiện đại, lý thuyết phân tích diễn ngôn đã phát triển từ việc khảo sát tính liên kết hình thức thuần túy (giai đoạn I) sang tính mạch lạc ngữ nghĩa (giai đoạn II) và tiếp cận diễn ngôn như một quá trình giao tiếp xã hội mang tính động (giai đoạn III). Mặc dù văn bản quản lý nhà nước đã được khảo sát ở nhiều phương diện phong cách học hoặc kỹ năng hành chính, song việc tiếp cận loại hình văn bản này—đặc biệt là thể loại Nghị định và Thông tư—dưới góc độ phân tích diễn ngôn, tập trung vào bình diện quan hệ liên nhân và chức năng tác động vẫn chưa có công trình chuyên biệt khảo sát toàn diện. Đây chính là khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Làm sáng tỏ các đặc điểm ngôn ngữ của văn bản Nghị định và Thông tư từ góc độ phân tích diễn ngôn; nhận diện và phân tích các phương thức, phương tiện ngôn ngữ biểu thị quan hệ liên nhân và chức năng tác động trong hai kiểu loại văn bản này, từ đó xác định các yêu cầu tổ chức diễn ngôn đạt hiệu quả giao tiếp quản lý nhà nước.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xây dựng khung lý thuyết dựa trên các thành tựu dụng học, lý thuyết giao tiếp, quan hệ liên nhân, hành động ngôn từ, lý thuyết lập luận và lý luận văn bản hành chính để làm cơ sở nghiên cứu.
- Vận dụng khung lý thuyết để phân tích quan hệ liên nhân trong diễn ngôn Nghị định và Thông tư, làm rõ đặc điểm giao tiếp hành chính, các nhân tố giao tiếp, ngữ cảnh và biểu hiện của yếu tố quyền lực.
- Khảo sát chức năng tác động trong diễn ngôn Nghị định và Thông tư thông qua các phương tiện thể hiện của hành động ngôn từ (đặc biệt là hành động điều khiển) và cấu trúc lập luận.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ liên nhân và chức năng tác động được biểu hiện thông qua các phương thức và phương tiện ngôn ngữ trong diễn ngôn Nghị định của Chính phủ và Thông tư của các Bộ.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Tập trung vào quan hệ liên nhân (vai giao tiếp, quan hệ quyền lực thể hiện qua hành động ngôn từ, tình thái) và chức năng tác động (tác động qua hành động ngôn từ điều khiển, tuyên bố, tái hiện và lập luận).
- Thời gian và ngữ liệu: Khảo sát hệ thống văn bản được ban hành trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2018 (khoảng 15 năm).
- Quy mô dữ liệu: 203 văn bản Nghị định và Thông tư thuộc hai lĩnh vực Giáo dục & Đào tạo (GDĐT) và Văn hóa, Thể thao & Du lịch (VHTTDL) với tổng khối lượng 1.324 trang dữ liệu A4. Ngoài ra, luận án khảo sát thêm 69 văn bản Tờ trình để làm dữ liệu so sánh, đối chiếu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu ngôn ngữ văn bản quản lý nhà nước và văn bản quy phạm pháp luật trên thế giới đã hình thành từ sớm với nhiều công trình tiêu biểu:
- Nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ: Mellinkoff (1963) với công trình The Language of the Law được xem là nghiên cứu đặt nền tảng, khẳng định ngôn ngữ pháp luật là một ngành nghề của từ ngữ và chỉ ra hiện tượng lặp từ vựng nhằm bảo đảm độ chính xác. Tiếp sau đó là các nghiên cứu của Hager (1960), Frederick Schauer (1982), Maley (1994). Peter Tiersma (1999) trong The Nature of Legal Language phân tích nguồn gốc lịch sử của ngôn ngữ pháp lý tiếng Anh dưới ảnh hưởng của tiếng Latinh và tiếng Pháp, dẫn đến đặc trưng câu bị động và nhiều mệnh đề phụ.
- Phân loại thể loại diễn ngôn: Bhatia (1987, 1993) phân chia văn bản quản lý nhà nước thành nhiều tiểu loại dựa trên mục đích giao tiếp, ngữ cảnh, quan hệ xã hội và tri thức nền giữa các bên tham gia giao tiếp.
- Ứng dụng trong dịch thuật pháp lý: Alcaraz Varó trong Legal Translation nghiên cứu các khoảng trống và tranh cãi khi chuyển ngữ giữa các hệ thống pháp luật khác nhau. Alenka Kocbek (2008) với bài viết The Cultural Embeddedness of Legal Texts trên Journal of Language & Translation đề xuất các giải pháp xử lý sự bất tương thích khái niệm pháp lý qua lăng kính văn hóa.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
- Khuynh hướng tiếp cận theo phong cách học chức năng:
- Vương Đình Quyền, Nguyễn Văn Hàm (1997) trong Văn bản và lưu trữ đại cương xem Hiến pháp, luật, nghị định, thông tư là văn bản quản lý hành chính nhà nước.
- Cù Đình Tú (1982) trong Phong cách học tiếng Việt xếp các văn bản quy phạm và điều lệ vào phong cách hành chính, nhấn mạnh tính thể thức và trang nghiêm.
- Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (1997) trong Phong cách học tiếng Việt và Lưu Kiếm Thanh (2010) trong Ngôn ngữ văn bản quản lý hành chính nhà nước xếp toàn bộ văn bản quản lý nhà nước vào phong cách hành chính - công vụ, xác định hai chức năng ngôn ngữ chính là thông báo và sai khiến, mang tính chính xác, minh bạch, khách quan và khuôn mẫu cao.
- Nguyễn Hữu Đạt xác định văn bản luật, nghị định là tiểu loại thuộc phong cách hành chính - công vụ với tính khuôn mẫu đồng loạt, phi biểu cảm, trang trọng và khả biến theo thời gian.
- Khuynh hướng tiếp cận theo phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn:
- Giai đoạn phân tích ngữ pháp văn bản và tính liên kết: Trần Ngọc Thêm (1985) với Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt; Nguyễn Thị Việt Thanh với Hệ thống liên kết lời nói.
- Hệ thống hóa lý thuyết diễn ngôn và dụng học: Diệp Quang Ban với các chuyên khảo tổng quan các trào lưu phân tích diễn ngôn; Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân với các công trình ngữ dụng học; Nguyễn Thiện Giáp (2000) trong Dụng học Việt ngữ dành chương riêng bàn về diễn ngôn, ngữ cảnh và giao thoa văn hóa; Nguyễn Hòa tiếp cận phân tích diễn ngôn phê phán, chú trọng vai trò tạo lập và tái tạo quyền lực của ngôn ngữ trong xã hội.
- Các công trình nghiên cứu trên ngữ liệu văn bản pháp luật, hành chính cụ thể:
- Lê Hùng Tiến (1998) nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ luật pháp tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh) theo ngữ pháp chức năng hệ thống, miêu tả động từ ngữ vi, câu ngữ vi, từ tình thái trong Bộ luật Dân sự và Hình sự.
- Dương Thị Hiền (2008) ứng dụng phân tích diễn ngôn phê phán để phân tích và so sánh ngôn ngữ Hiến pháp Hoa Kỳ với Hiến pháp Việt Nam năm 1992.
- Nguyễn Thị Hường (2010) nghiên cứu biểu hiện của mạch lạc trong thể loại báo cáo và tờ trình thuộc văn bản hành chính - công vụ.
- Đỗ Thị Thanh Nga (2016) nghiên cứu ngôn ngữ trong văn bản hành chính tiếng Việt từ góc độ dụng học, nhấn mạnh nhóm văn bản hành chính thông dụng.
- Tống Duy Tình (2015) khảo sát hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật của Bộ GDĐT dưới góc độ thẩm quyền và nội dung quản lý; Trần Anh Minh nghiên cứu kỹ năng soạn thảo và nguyên tắc xây dựng văn bản.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở phong cách học chức năng, kỹ năng soạn thảo hoặc phân tích tính liên kết văn bản ở các nhóm văn bản hành chính thông thường (báo cáo, tờ trình) hoặc văn bản luật chung. Chưa có công trình nào đi sâu khảo sát chuyên biệt diễn ngôn Nghị định và Thông tư trên hai bình diện cốt lõi: bản chất quan hệ liên nhân (xác định vị thế quyền lực giữa chủ thể ban hành và đối tượng tiếp nhận) và chức năng tác động (cơ chế điều khiển hành vi và cấu trúc lập luận).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
- Lý thuyết chức năng liên nhân của ngôn ngữ: Dựa trên quan điểm của M.A.K. Halliday về ba siêu chức năng (tư tưởng, liên nhân, văn bản). Chức năng liên nhân (interpersonal function) thể hiện việc thiết lập, duy trì và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, bộc lộ vị thế quyền lực, thái độ của các tham thể giao tiếp nhằm tác động đến hành vi của người tiếp nhận.
- Mô hình quan hệ liên nhân và trục quyền lực: Luận án áp dụng mô hình của Gilman (dẫn theo Vũ Tiến Dũng, 2007) phân tích quan hệ liên nhân theo hai trục:
- Trục quyền lực (quan hệ dọc): Cố định, dựa trên vị thế xã hội, chức quyền, thứ bậc pháp lý; bên trên quyền có khả năng trực tiếp chi phối, kiềm chế hành vi của bên dưới quyền.
- Trục thân hữu (quan hệ ngang / khoảng cách xã hội): Có thể biến đổi mức độ gần gũi hay xa cách trong quá trình tương tác.
- Lý thuyết hành động ngôn từ và phân tích diễn ngôn: Sử dụng lý thuyết hành vi ngôn ngữ (Austin, Searle), phân biệt các nhóm hành động ngôn từ (điều khiển, tuyên bố, tái hiện), cấu trúc biểu thức ngôn hành, động từ ngôn hành, phát ngôn ngữ vi, lực ngôn trung (illocutionary force) và các phương thức biến đổi cường độ lực ngôn trung.
- Lý thuyết mô hình giao tiếp và lập luận: Vận dụng mô hình giao tiếp của Jakobson và Lyons; tiếp cận diễn ngôn như một quá trình giao tiếp song phương mang tính phức hợp; lý thuyết lập luận (luận cứ, chỉ dẫn lập luận, quan hệ lập luận và tính mạch lạc).
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Khảo sát cách thức tổ chức diễn ngôn Nghị định, Thông tư trong ngữ cảnh giao tiếp quản lý nhà nước; làm rõ vai giao tiếp, vị thế quyền lực, ngữ vực và cơ chế tương tác tác động.
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa và dụng học: Phân tích các biểu thức ngữ vi, vị từ tình thái, các tổ hợp từ chỉ nghĩa vụ, quyền hạn, sự cấm đoán hoặc cho phép nhằm xác lập mối quan hệ giữa ý nghĩa ngữ pháp - ngữ nghĩa với hiệu lực hành động.
- Phương pháp miêu tả: Miêu tả định tính các cấu tạo lập luận, các dạng hành động ngôn từ chủ đạo, biểu thức ngôn hành và các phương tiện điều biến hiệu lực ở cấp độ phát ngôn.
- Thủ pháp thống kê: Thống kê định lượng tần số xuất hiện của các hành động ngôn từ, động từ ngôn hành, các yếu tố tình thái và các chỉ dẫn lập luận trên toàn bộ khối ngữ liệu để làm căn cứ rút ra nhận xét.
Nguồn tư liệu và dữ liệu khảo sát
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thực tế từ các nguồn văn bản pháp quy chính thức:
| Danh mục dữ liệu | Thể loại văn bản | Cơ quan ban hành / Lĩnh vực | Giai đoạn ban hành | Quy mô số lượng |
|---|---|---|---|---|
| Ngữ liệu chính | Nghị định (NĐ), Thông tư (TT) | Chính phủ, Bộ GDĐT, Bộ VHTTDL | 2005 – 2018 | 203 văn bản (1.324 trang A4) |
| Dữ liệu so sánh | Tờ trình (TTr) | Văn bản hành chính thông thường | 2005 – 2018 | 69 văn bản |
Nội dung chính theo từng chương
CẤU TRÚC NỘI DUNG LUẬN ÁN
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của luận án
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về văn bản quản lý nhà nước, lịch sử nghiên cứu trong và ngoài nước, đồng thời xây dựng nền tảng khái niệm cho luận án:
- Đặc điểm thể loại: Làm rõ sự phân định giữa các kiểu loại văn bản theo thẩm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Xác lập vị trí của văn bản hành chính trung ương (Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ trưởng) là công cụ điều hành vĩ mô mang tính bắt buộc thi hành.
- Phân biệt văn bản và diễn ngôn: Xác định văn bản (text) là sản phẩm tĩnh ở dạng viết, trong khi diễn ngôn (discourse) là sản phẩm giao tiếp động gắn liền với ngữ cảnh, chủ thể, mục đích và tiến trình tương tác xã hội.
- Khung khái niệm liên nhân và quyền lực: Xác định bản chất giao tiếp trong văn bản quản lý nhà nước là giao tiếp bất đối xứng về quyền lực. Người ban hành văn bản đại diện cho cơ quan công quyền (ở vị thế áp đặt quy phạm), người tiếp nhận ở vị thế tuân thủ thi hành.
Chương 2: Quan hệ liên nhân trong giao tiếp qua diễn ngôn nghị định, thông tư
Chương 2 tập trung phân tích cơ chế giao tiếp và sự hiện diện của quan hệ liên nhân trên văn bản Nghị định, Thông tư:
- Các nhân tố giao tiếp và vai giao tiếp: Nhận diện người phát (Sp1 - chủ thể thẩm quyền nhà nước) và người nhận (Sp2 - cơ quan, tổ chức, công dân chịu sự điều chỉnh). Khảo sát cấu trúc hiện diện hoặc lược bỏ của Sp1 và Sp2 trong các biểu thức ngôn hành điều khiển (BTNHĐK).
- Biểu hiện của quan hệ quyền lực qua hành động ngôn từ điều khiển:
- Phân tích cấu trúc biểu thức ngữ vi và phát ngôn ngữ vi của hành vi điều khiển.
- Đối chiếu giữa Nghị định, Thông tư với văn bản Tờ trình: Trong Tờ trình, động từ ngôn hành mang tính chất thỉnh cầu, đề xuất (từ vị thế dưới lên trên); ngược lại, trong Nghị định và Thông tư, các hành động điều khiển mang tính áp đặt bắt buộc (từ vị thế trên xuống dưới).
- Biểu hiện qua các yếu tố tình thái: Khảo sát tần số xuất hiện của các vị từ tình thái và tổ hợp từ biểu thị tình thái nghĩa vụ (phải, có trách nhiệm, bắt buộc...), tình thái khả năng/cho phép (được, có quyền...), và cấm đoán (không được, nghiêm cấm...) trên 1.324 trang ngữ liệu, khẳng định tính quy chuẩn và quyền lực đơn phương của chủ thể ban hành.
Chương 3: Chức năng tác động và lập luận trong diễn ngôn nghị định, thông tư
Chương 3 làm rõ các phương thức ngôn ngữ thực hiện mục đích tác động trực tiếp và gián tiếp lên đối tượng tiếp nhận:
- Bản chất giao tiếp song phương phức hợp: Khẳng định Nghị định, Thông tư là một hành động giao tiếp phức hợp, kết hợp nhiều hành động ngôn từ bộ phận để hướng tới mục tiêu tối hậu là điều chỉnh hành vi xã hội.
- Các phương tiện tác động qua hành động ngôn từ:
- Hành động ngôn từ tuyên bố: Thiết lập hiệu lực pháp lý mới, quy định cơ cấu tổ chức, ban hành quy chế.
- Hành động ngôn từ tái hiện: Miêu tả sự việc, giải thích từ ngữ, quy định điều kiện, tiêu chuẩn khách quan làm căn cứ áp dụng.
- Hành động ngôn từ điều khiển: Phân hóa thành ba tiểu nhóm tác động cụ thể: nhóm mang nghĩa yêu cầu (bắt buộc thực hiện hành vi), nhóm mang nghĩa cấm đoán (ngăn chặn hành vi vi phạm), nhóm mang nghĩa cho phép (trao quyền hoặc miễn trừ nghĩa vụ).
- Hệ thống biến đổi cường độ lực ngôn trung: Phân tích các phương thức tăng cường hoặc giảm nhẹ cường độ áp đặt bên trong và bên ngoài biểu thức ngôn hành.
- Cơ chế lập luận trong diễn ngôn:
- Xác định cấu trúc lập luận pháp lý gồm luận cứ pháp lý (LCPL - căn cứ thẩm quyền, căn cứ luật/pháp lệnh cấp trên) và luận cứ thực tiễn (LCTT - tình hình thực tế, tờ trình đề xuất).
- Khảo sát các chỉ dẫn lập luận, quan hệ lập luận và mạch lạc nhằm tạo tính thuyết phục, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và khả thi của văn bản.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Nhận diện và xác lập một khung tiếp cận mới đối với văn bản quản lý nhà nước (cụ thể là Nghị định và Thông tư) từ lý thuyết phân tích diễn ngôn và ngữ dụng học, thay vì chỉ tiếp cận thuần túy theo phong cách học truyền thống.
- Làm sáng tỏ bản chất quan hệ liên nhân bất đối xứng và yếu tố quyền lực thể chế được mã hóa qua các biểu thức ngôn hành, cấu trúc phát ngôn và hệ thống từ ngữ tình thái.
- Hệ thống hóa các phương tiện ngôn ngữ thực hiện chức năng tác động (bao gồm các nhóm hành động ngôn từ tuyên bố, tái hiện, điều khiển) và cơ chế biến đổi cường độ lực ngôn trung trong văn bản quản lý hành chính nhà nước cấp trung ương.
- Làm rõ cấu trúc lập luận đặc thù trong văn bản quy phạm pháp luật, chứng minh mối quan hệ hữu cơ giữa tính mạch lạc, cấu trúc luận cứ (pháp lý và thực tiễn) với hiệu lực quản lý của văn bản.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Cung cấp các căn cứ ngôn ngữ học xác đáng giúp nhận thức đúng đắn và chuẩn hóa việc sử dụng từ ngữ, biểu thức ngữ vi trong quy trình xây dựng và ban hành Nghị định, Thông tư.
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật cụ thể cho người soạn thảo văn bản: cách thức lựa chọn động từ ngôn hành chuẩn xác, phân bổ vị từ tình thái đúng thẩm quyền, sắp xếp luận cứ pháp lý và chỉ dẫn lập luận chặt chẽ nhằm tránh cách hiểu đa nghĩa hoặc làm suy giảm hiệu lực pháp lý.
- Hệ thống hóa nguồn tư liệu thực chứng có thể ứng dụng trực tiếp vào công tác giảng dạy các học phần chuyên môn như Tiếng Việt và Giao tiếp hành chính, Kỹ năng xây dựng và ban hành văn bản quản lý nhà nước tại các cơ sở đào tạo hành chính và luật học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi ngữ liệu gồm 203 văn bản Nghị định và Thông tư thuộc hai bộ chuyên ngành (Bộ GDĐT và Bộ VHTTDL) ban hành trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2018, đối chiếu với 69 tờ trình. Do đó, các đặc thù ngôn ngữ của các thể loại văn bản pháp quy khác (như Quyết định của Thủ tướng, Nghị quyết) hoặc văn bản của các ngành kinh tế - kỹ thuật đặc thù chưa được bao quát toàn diện.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi phân tích diễn ngôn sang các kiểu loại văn bản quy phạm pháp luật khác ở cả cấp trung ương và địa phương; so sánh đối chiếu sâu hơn giữa các lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau hoặc khảo sát diễn ngôn pháp luật từ góc độ liên văn bản và ngôn ngữ học so sánh đối chiếu đa ngữ.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Là tài liệu tham khảo chuyên sâu về việc vận dụng lý thuyết ngữ pháp chức năng, phân tích diễn ngôn và dụng học vào phân tích các thể loại văn bản chuyên ngành tiếng Việt.
- Đối với giảng viên và cơ sở giáo dục đại học: Dùng làm học liệu giảng dạy cho các môn học Ngôn ngữ học văn bản, Dụng học tiếng Việt, Tiếng Việt hành chính, Soạn thảo văn bản quản lý nhà nước tại các trường đại học KHXH&NV, Học viện Hành chính Quốc gia, Đại học Luật.
- Đối với cán bộ công chức, chuyên viên tham mưu soạn thảo chính sách: Cung cấp các tiêu chí ngôn ngữ cụ thể để kiểm tra, biên tập và nâng cao tính chuẩn xác, tính khả thi và sức thuyết phục của văn bản quy phạm pháp luật trước khi trình ban hành.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án tiếp cận văn bản quản lý nhà nước khác gì so với các nghiên cứu phong cách học truyền thống?
Các nghiên cứu phong cách học truyền thống (như của Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa) chủ yếu xếp văn bản quản lý nhà nước vào phong cách hành chính - công vụ và miêu tả các đặc trưng tĩnh như tính khuôn mẫu, phi biểu cảm, chính xác, nghiêm trang. Luận án của Phan Thị Thu Thủy tiếp cận theo hướng phân tích diễn ngôn (giai đoạn III) và dụng học, xem văn bản là một quá trình giao tiếp động, qua đó giải mã mối quan hệ liên nhân (quyền lực thể chế) và cơ chế tác động hành vi thông qua hành động ngôn từ và lập luận.
2. Quan hệ liên nhân trong Nghị định và Thông tư được biểu hiện qua các phương tiện ngôn ngữ chính nào?
Quan hệ liên nhân được thể hiện tập trung qua: (1) Cách thể hiện hoặc lược bỏ chủ thể phát ngôn Sp1 và đối tượng nhận Sp2 trong biểu thức ngôn hành; (2) Việc sử dụng các động từ ngôn hành điều khiển mang tính áp đặt quyền lực; (3) Hệ thống các vị từ và tổ hợp từ tình thái mang tính nghĩa vụ, bắt buộc thi hành hoặc phân định thẩm quyền rõ rệt giữa chủ thể ban hành và đối tượng chấp hành.
3. Ngữ liệu nghiên cứu của luận án có quy mô như thế nào?
Ngữ liệu của luận án gồm 203 văn bản Nghị định của Chính phủ và Thông tư của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch ban hành trong giai đoạn 2005 - 2018 với tổng dung lượng 1.324 trang A4. Đồng thời, tác giả khảo sát thêm 69 văn bản Tờ trình cùng giai đoạn để làm dữ liệu so sánh, đối chiếu.
4. Cấu trúc lập luận trong diễn ngôn Nghị định và Thông tư gồm những yếu tố cấu thành nào?
Cấu trúc lập luận trong văn bản Nghị định, Thông tư được cấu thành bởi: (1) Luận cứ pháp lý (LCPL) xác định căn cứ luật pháp và thẩm quyền ban hành; (2) Luận cứ thực tiễn (LCTT) phản ánh nhu cầu quản lý và tình hình thực tế; (3) Hệ thống các từ ngữ chỉ dẫn lập luận bảo đảm tính mạch lạc và sức thuyết phục logic chặt chẽ của quy phạm.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Phan Thị Thu Thủy đã khảo sát toàn diện văn bản quản lý hành chính nhà nước cấp trung ương (Nghị định và Thông tư) dưới góc độ phân tích diễn ngôn và dụng học. Bằng việc phân tích hệ thống ngữ liệu thực tế gồm 203 văn bản quy phạm pháp luật và 69 tờ trình đối chiếu, công trình đã làm sáng tỏ bản chất của quan hệ liên nhân, yếu tố quyền lực và chức năng tác động thông qua các hành động ngôn từ và cấu trúc lập luận. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp quan trọng vào sự phát triển của ngôn ngữ học ứng dụng tiếng Việt mà còn mang lại giá trị thực tiễn thiết thực cho công tác xây dựng, soạn thảo và chuẩn hóa văn bản quản lý nhà nước hiện nay.