Chương 1 TỎNG QUAN 1. Các nghiên cứu liên quan đề tài trên thế giới và trong nước 1. Trên thế giới Grigoli và cộng sự (2014) đã nghiên cứu ảnh hưởng của chất lượng thể chế đến mức độ, sự biến động và chất lượng của đầu tư công. Kết quả cho thấy có mối quan hệ ngược chiều giữa mức đầu tư công và chất lượng thê chế, ủng hộ quan điểm cho rằng các chính phủ sử dụng đầu tư công như một phương tiện đề kiếm tiền.
Bên cạnh đó, chất lượng quản trị thấp hơn sẽ làm tăng sự biến động của đầu tư công, có mối quan hệ tích cực giữa chất lượng thé chế và chất lượng cơ sở hạ tang. Các nhà hoạch định chính sách nhằm giảm nhu cầu cơ sở hạ tầng thông qua chỉ tiêu vốn nên thực hiện các biện pháp tăng cường năng lực thê chế đề quản lý đầu tư công. Svitlana và cộng sự (2019) đã nghiên cứu hệ thống quản lý dự án đầu tư công hiện có ở Ukraine. Các tac giả nêu các nhiệm vụ thực tế của mình liên quan đến việc thực hiện Hiệp định Liên minh EU Ukraine.
Thực hiện ước tính các thông số định lượng của đầu tư công trong điều kiện thúc đây tăng trưởng kinh tế và xác định các hình thức của nó. Kết quả cho thấy, sự đa dạng không hợp lý của các hình thức tổ chức của các dự án đầu tư công ở Ukraine đã dẫn đến tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong việc thực hiện các dự án đầu tư công còn yếu. Bài báo nhấn mạnh việc hình thành khuôn khổ thể chế quản lý công đối với các dự án đầu tư công - cơ sở pháp lý, thâm quyên chịu trách nhiệm, các khuyến nghị phương pháp luận và việc hình thành lộ trình thực hiện các dự án. Các tác giả phân tích hoạt động của Ủy ban liên bộ về các dự án đầu tư nhà nước được thành lập gần đây.
Các điểm yếu của quản lý đầu tư công ở Ukraine được xác định là: Quy trình khởi xướng, Don vi tư vẫn, thấm định và lựa chọn các dự án công không hợp lý; Thiếu một hệ thống thông tin thống nhất; Kiểm soát chưa đầy đủ việc thực hiện các dự án đầu tư; Thiếu đảm bảo về đủ tài chính. Các khả năng cải thiện quản lý đầu tư công được xem xét dựa trên định hướng hội nhập châu Âu của phát triển nhà nước. Trong số đó có: thiết lập các quy tắc tài khóa đầy du, xác định rõ ràng các ưu tiên của PIP, tăng tỷ trong đầu tư của chính phủ được quản lý như các dự án, thiết lập các tiêu chí rõ ràng và giới thiệu chuyên môn độc lập về lựa chọn của PIP. Kim Jong Wook và cộng sự (2019) thảo luận về các vấn đề như cung và cầu cơ sở hạ tầng, mức độ ưu tiên của các dự án cơ sở hạ tầng và các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng ở Indonesia.
Bài báo này cũng đưa ra các khuyến nghị chính sách về phân bổ và quan lý ngân sách đối với cơ sở hạ tang, cũng như việc lựa chọn các phương thức tài trợ giữa các nguồn lực khác nhau cho một dự án cụ thể bằng cách chia sẻ các thỏa thuận thê chế với Hàn Quốc. Trước tiên, cần phải xây dựng một hệ thống quản lý đầu tư công thống nhất bằng cách nâng cao vai trò của bộ ngân sách trong việc lựa chọn các dự án và loại hình tài trợ. Với những hạn chế về ngân sách và thiếu hụt cơ sở hạ tầng ở Indonesia, việc nâng cao hiệu quả và hiệu quả của chi tiêu cho cơ sở hạ tầng được coi là van dé quan trọng đối với Bộ ngân sách. Thứ hai, phân tích kinh tế chặt chẽ là một thành phần quan trọng dé lựa chọn một cách khách quan và minh bạch một dự án.
Khuyến nghị các nghiên cứu thí điểm về dự án đầu tư cơ sở hạ tầng thực tế, cũng như cung cấp các chương trình nâng cao năng lực cho cán bộ ở các bộ liên quan. Cuối cùng, trong khi cả các dự án đối tác công tư (PPP) và các dự án đo doanh nghiệp nhà nước (SOE) đầu tư đều có thể đóng góp vào việc thực hiện cơ sở hạ tầng, thì cần phải đánh giá khả năng ngân hàng và khả năng tồn tại của một dự án. Đánh giá khách quan và chặt chẽ cho một dự án ứng viên là điều cần thiết để quyết định giải pháp tài chính tốt nhất. Về lâu dài, cần cải cách thuế hoặc thiết lập các tài khoản đặc biệt cho cơ sở hạ tầng.
Thuế đặc biệt hoặc thuế ưu đãi có thê được sử dụng dé thiết lập các tài khoản đặc biệt cho tài chính cơ sở hạ tang. Trong nước Ngô Quang Minh (2015) đã thực hiện nghiên cứu nhằm làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của công tác QLDA dau tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Mê Linh - thành phố Hà Nội. Qua phân tích, đánh giá được những thành tựu, hạn chế cũng như nguyên nhân của những hạn chế như: Công tác quy hoạch, kế hoạch vốn đầu tư XDCB từ NSNN điều chỉnh nhiều lần; Hệ thống luật pháp, chính sách chưa rõ rang; Việc lập, thâm định, phê duyệt dự án đầu tư, quản lý công tác đấu thầu còn nhiều hạn chế; Việc triển khai thực hiện các dự án sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN diễn ra chậm, lãng phí, thất thoát, hiệu quả không cao; Tình hình nợ đọng vốn đầu tư XDCB từ NSNN vượt quá khả năng của ngân sách. Từ đó đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư các công trình xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Mê Linh phù hợp với phương hướng phát triển kinh tế -xã hội của huyện Mê Linh đến năm 2030 bao gồm: (1) Hoàn thiện và nâng cao năng lực quản lý của Chủ đầu tư và Ban quản lý dự án; (2) Đổi mới và hoàn thiện cơ chế phân cấp, quản ly trong công tác đầu tư XDCB; (3) Hoàn thiện công tác quản lý dự án trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư; (4) Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư trong giai đoạn thực hiện đầu tư; (5) Hoàn thiện công tác quản lý dự án trong giai đoạn kết thúc đầu tư.
Nguyễn Hữu Vinh (2010) đã nghiên cứu các yếu tô tác động đến hiệu quả đầu tư công trong xây dựng công trình giao thông trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Đề tài đã xây dựng danh mục những yếu tô có tác động lớn đến chi phí, thời gian và chat lượng của những dự án xây dựng công trình giao thông và qua đó đã chứng minh được một cách khoa học về mối tương quan giữa các nhóm yếu tổ ngoại vi như Chi phí, thời gian, chất lượng tác động đến hiệu quả đầu tư công đối với các dự án xây dựng công trình giao thông. Trên nền tảng phân tích khoa học các yếu tố và nhóm yếu tố tác động lên các công trình xây dựng giao thông, đặc biệt là nhận định được nhóm yếu tố có tam ảnh hưởng mạnh nhất, luận văn đã đề xuất một số giải pháp cụ thể đối với chủ đầu tư và ban QLDA, nhất là giải pháp về kiểm soát yếu tố tác động đến chất lượng công trình được thể hiện đưới một mô hình là “Ngôi nhà kiểm soát yếu tố chất lượng công trình giao thông”. Các giải pháp được xem xét, và tính toán hợp lý trong một sự kết nối chặt chẽ, logic với nhau.
Vũ Quang Lãm (2010) đã bước đầu định danh và định lượng 5 nhóm nhân tố có anh hưởng đến quan lý dự án công tại thành phó Hồ Chi Minh theo những mức độ khác nhau bằng phương pháp phân tích nhân tổ khám phá EFA và phương pháp hồi quy. Thông qua việc khảo sát các cá nhân ở các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư, các Ban Quản lý dự án lớn của thành phó, các doanh nghiệp, đơn vi su nghiệp nhà nước có dự án đầu tư vá các đơn vị khác, các yếu tố ảnh hưởng đến quan lý dự án công tại thành phố Hồ Chí Minh bao gồm: (1) Nhà quản lý chuyên nghiệp trong môi trường liêm khiết (2) Khả năng triển khai công việc của chủ đầu tư (3) Khung pháp lý cho công tác quản lý đầu tư công (4) Lựa chọn chủ đầu tư (5) Quy trình triển khai công việc. Từ đó tác giả đã đề xuất 5 nhóm giải pháp nhằm thúc đầy cải cách tài chính, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý đầu tư. Hoàng Thị Huệ (2015) đã phân tích hiệu quả quan ly dau tư công tại thành phố Cần Thơ từ góc nhìn quản lý nhà nước.
Kết quả đề tài cho thấy hiệu quả đầu tư công chưa cao, tăng trưởng kinh tế của thành phố Cần Thơ chủ yếu dựa vào vốn. Nguyên nhân là do nền kinh tế thành phô khi chia tách gặp nhiều khó khăn, thách thức do xuất phát điểm thấp, năng lực quản lý của bộ máy nhà nước thừa mà thiếu và yếu, thủ tục hành chính rườm rà, còn nặng về giấy tờ, ngân sách chủ yếu chi cho thường xuyên, (chi lương và các chính sách an sinh xã hội), bên cạnh đó co chế chính sách của nhà nước chưa đồng bộ, còn chồng chéo, bộ máy chính quyền cồng kénh. Dé giải quyết được vấn đề này, thông qua việc đánh giá, phân tích tình hình quản lý đầu tư công trên địa bàn thành phố tác giả nhận thấy hiệu quả quản lý nhà nước của các cơ quan thành phố chưa cao. Có thé tổng kết một số hạn chế chính trong quan lý đầu tư công là: năng lực bộ máy cơ quan nhà nước còn yếu do không có động lực thúc đây và cơ chế giám sát đủ mạnh; quy định về cách thức thẩm định, lựa chọn dự án công còn đơn giản chưa định lượng được lợi ích kinh tế - xã hội; các chế tài xử lý vi phạm không đủ mạnh; cơ chế quản lý kinh phí phát sinh cho đầu tư chưa phù hợp.
Đây chính là những nguyên nhân gây ra đầu tư công không hiệu quả trong giai đoạn vừa qua. Trên cơ sở so sánh công tác quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách tại tỉnh Hà Nam với Khung Chân đoán cho việc đánh giá quản lý đầu tư công của Ngân hàng Thế giới, Nguyễn Thụy Hải (2014) nhận thay rằng quy trình quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách của Hà Nam so với chuẩn chung là khá đầy đủ.