Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA 1. Khái niệm cơ bản 1. Di sản văn hóa Theo Luật Di sản Văn hóa “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [17,tr. Di sản văn hóa Việt Nam bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể là những sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Di sản văn hóa phi vật thể là là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học, đươc lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác; bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết và nghề thủ công truyền thống, tri thức nghề y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Tuy nhiên, sự phân định này chỉ mang tính tương đối bởi trong thực tế, yếu tố vật thể và phi vật thể gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại để làm nên giá trị của một di sản. Di tích lịch sử văn hóa Khái niệm di tích lịch sử văn hóa Theo từ điển Tiếng Việt, “di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất, có ý nghĩa về mặt lịch sử, văn hóa” [33, tr.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Hùng- người đã dành nhiều tâm huyết nghiên cứu về di sản, di tích và việc bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa, cho rằng “Di tích là bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Di tích giúp cho con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hóa của đất nước và do đó có tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại. Di tích lịch sử là những di tích liên quan tới sự tiến bộ của lịch sử dân tộc” [10, tr. Theo Điều 1, Hiến chương Venice năm 1964 quy định “Di tích lịch sử văn hóa bao gồm những công trình xây dựng riêng lẻ, những khu di tích ở đô thị hay ở nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử” [12, tr.
Theo Luật Di sản Văn hóa năm 2001 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa năm 2009: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [17, tr. Từ những khái niệm trên, có thể hiểu: Di tích lịch sử văn hóa là nơi lưu giữ một giá trị văn hóa khảo cổ, những địa điểm ghi dấu tích về lịch sử dân tộc, những nơi diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng, có ý nghĩa đối với lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương, những địa điểm ghi dấu ấn chiến công chống xâm lược, chống áp bức, những nơi có giá trị về nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, khoa học, những công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị. Mỗi một di tích lịch sử văn hóa đều mang một giá trị văn hóa, 9 lịch sử nhất đinh, phản ánh một chặng đường lịch sử của cộng đồng dân cư, quá trình hình thành, phát triển qua mỗi thời đại. Phân loại di tích lịch sử văn hóa Theo Điều 28, Luật Di sản Văn hóa năm 2009 quy định, di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: Công trình xây dựng, địa điểm gắn kết với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến; Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử [18, tr.
Như vậy, di tích được phân loại như sau: Thứ nhất, theo đầu mối quản lý và giá trị của di tích, di tích lịch sử văn hóa được chia thành 3 loại: Di tích quốc gia đặc biệt, Di tích quốc gia, Di tích cấp tỉnh. Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Các di tích này được địa phương lập hồ sơ xếp hạng và trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt. Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia.
Các di tích này được địa phương lập hồ sơ xếp hạng, trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch UBND tỉnh, Bộ trưởng Bộ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng di tích quốc gia. Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương. Địa phương lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xếp hạng di tích cấp tỉnh. 10 Thứ hai, dựa vào hình thức quản lý, di tích lịch sử văn hóa được chia thành 3 loại: Di tích do Nhà nước trực tiếp quản lý; Di tích do cộng đồng dân cư (dưới hình thức tập thể) trực tiếp quản lý; Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý, cụ thể như sau: Di tích do Nhà nước quản lý là các di tích quốc gia đặc biệt và di tích quốc gia do các BQL di tích được Nhà nước thành lập trực tiếp quản lý, Nhà nước cấp lương, chi phí cho hoạt động thường xuyên, các chi phí sửa chữa trực tiếp cho BQL di tích.
Di tích do cộng đồng dân cư (dười hình thức tập thể) trực tiếp quản lý là các di tích quốc gia, di tích địa phương cấp tỉnh được giao cho tổ chức trực tiếp quản lý như đình làng, các chùa, đền thờ. Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý như: nhà thờ dòng họ, nhà ở dân cư trong các khu phố cổ, sắc phong, bảo vật của dòng họ. Thứ ba, theo điều kiện khai thác, di tích lịch sử văn hóa gồm có: Di tích có khả năng khai thác; Di tích chưa có khả năng khai thác. Di tích có khả năng khai thác là các di tích hấp dẫn khách tham quan, có giá trị khoa học có khả năng huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước do nguồn thu từ di tích, đáp ứng cho hoạt động bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích như di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích gắn tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, những di tích có giá trị toàn cầu, di tích nằm trong khu vực có điều kiện giao thông đi lại thuận lợi, thuộc các tuyến đường tham quan du lịch.
Di tích chưa có khả năng khai thác là các di tích chưa có các điều kiện thuận lợi khách quan về hấp dẫn khách tham quan, không có nguồn thu tại các di tích và rất khó huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước cho hoạt động bảo tồn, tôn tạo và khai thác như các di tích cách mạng, di tích khảo cổ học, di tích lưu niệm danh nhân nằm ở những khu vực không có điều kiện giao thông đi lại thuận lợi, không thuộc tuyến đường tham quan du lịch. Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa Quản lý nhà nước là thuật ngữ chỉ “hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do cơ quan nhà nước tiến hành với tất cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của Nhà nước” [11, tr. Quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc. Quản lý nhà nước về văn hóa mang tính đặc thù vì: hoạt động văn hóa là một hoạt động sáng tạo, các sản phẩm văn hóa mang giá trị lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm phong phú cho cuộc sống của con người; hoạt động văn hóa là hoạt động tư tưởng, có khả năng gây “hiệu ứng” tích cực hoặc tiêu cực cho xã hội; hoạt động văn hóa là hoạt động kinh tế, một nguồn lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Di tích lịch sử văn hóa là một bộ phận quan trọng cấu thành di sản văn hóa; chính vì vậy việc quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa cũng cần tiến hành theo nội dung quản lý nhà nước về di sản được đề cập trong Luật Di sản Văn hóa do Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ban hành năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung luật Di sản Văn hóa năm 2009. Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa là sự chấp hành, điều hành của Nhà nước bằng các phương thức, công cụ quản lý như: pháp luật, chính sách, cơ chế quy hoạch, kế hoạch tác động vào đối tượng quản lý để định hướng, điều chỉnh những hoạt động của xã hội về lĩnh vực di sản văn hóa, di tích đi theo đúng hướng, đúng mục đích, theo chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước.