Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Một số vấn đề cơ bản về lao động nông thôn 1. Khái niệm lao động nông thôn Lao động là hoạt động có ý thức của con người, đó là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động cải biến nó tạo ra sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình và xã hội.
Lao động nông thôn là toàn bộ những hoạt động lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất của những người lao động nông thôn. Do đó, lao động nông thôn bao gồm: lao động trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, dịch vụ nông thôn,…[8] 1. Đặc điểm lao động nông thôn Thứ nhất: Là mang tính chất thời vụ cao và không thể xóa bỏ được tính chất này. Sản xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và bị chi phối mạnh mẽ bởi các qui luật sinh học và điều kiện tự nhiên của từng vùng (khí hậu, đất đai,…).
Do đó, quá trình sản xuất mang tính thời vụ cao, thu hút lao động không đồng đều. Chính vì tính chất này đã làm cho việc sử dụng lao động ở các vùng nông thôn trở nên phức tạp hơn. Thứ hai: Lao động nông thôn rất dồi dào và đa dạng về độ tuổi và có thích ứng lớn. Do đó, việc huy động và sử dụng đầy đủ nguồn lực lao động có ý nghĩa rất quan trọng và phức tạp, đòi hỏi phải có biện pháp tổ chức quản lý lao động tốt để tăng cường lực lượng lao động cho sản xuất nông nghiệp.
Thứ ba: Lao động nông thôn đa dạng, ít chuyên sâu, trình độ thấp. Sản xuất nông nghiệp có nhiều việc gồm các khâu với các tính chất khác nhau. Hơn nữa mức độ áp dụng máy móc thiết bị vào sản xuất còn thấp vì thế mà sản xuất nông nghiệp chỉ đòi hỏi về sức khỏe, sự lành nghề và kinh nghiệm. Mỗi lao động có thể đảm nhận nhiều công việc khác nhau nên lao động nông thôn ít chuyên sâu hơn lao động trong các ngành công nghiệp và một số ngành khác.
Bên cạnh đó, phần lớn lao động nông nghiệp mang tính phổ thông, ít được đào tạo, sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào kinh nghiệm và sức khỏe, tổ chức lao động đơn giản, công cụ lao động cũng thô sơ 6 mang tính tự chế cao. Lực lượng chuyên sâu, lành nghề, lao động chất xám không đáng kể, phân bố lao động không đồng đều, vì vậy mà hiệu suất lao động thấp, khó khăn trong việc tiếp thu công nghiệp hiện đại vào sản xuất [8]. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Khái niệm Luật Dạy nghề (2006) định nghĩa: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học” [7].
Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014) đưa ra khái niệm: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp” [6]. Như vậy, đào tạo nghề cho lao động nông thôn là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt những kiến thức, kỹ năng, thái độ của một nghề nào đó cho người lao động ở khu vực nông thôn, từ đó tạo năng lực cho người lao động đó có thể thực hiện thành công nghề đã được đào tạo. Đặc điểm đào tạo nghề cho lao động nông thôn - Về đối tượng đào tạo: Lao động nông thôn có số lượng lớn, chất lượng lao động thấp, chủ yếu là lao động trình độ học vấn thấp và không qua đào tạo; Đối tượng đào tạo nghề của lao động nông thôn rất đa dạng theo độ tuổi, trạng thái sức khỏe, điều kiện sản xuất kinh doanh và hoàn cảnh sống. Với mỗi đối tượng trên, điều kiện tham gia đào tạo nghề là khác nhau.
Vì vậy đào tạo nghề cho lao động nông thôn còn được triển khai dưới nhiều hình thức thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh của họ. - Về chủ thể đào tạo: Với các đối tượng đào tạo nghề trên đòi hỏi hệ thống đào tạo nghề, mà trước hết là chủ thể đào tạo (hệ thống các cơ sở đào tạo, các bộ đào tạo,.) phải có sự thích ứng. Sự thích ứng đó của hệ thống đào tạo tạo nên những đặc điểm của đào tạo nghề cho lao động nông thôn. - Về hình thức: Đào tạo nghề lao động nông thôn được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như dạy tại các cơ sở, trung tâm dạy nghề, dạy nghề theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, công ty, tập đoàn, dạy nghề lưu động tại các xã, thôn, 7 bản, dạy nghề tại các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, dạy nghề gắn với các vùng chuyên canh, làng nghề.
Do vậy, tùy theo yêu cầu đào tạo nghề mà lựa chọn hình thức đào tạo nghề phù hợp. - Về phương pháp đào tạo: Đó là sự đa dạng và phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng vùng miền như đào tạo tập trung tại các cơ sở, trung tâm dạy nghề đối với người nông dân chuyển đổi nghề nghiệp, đào tạo nghề lưu động cho nông dân làm nông nghiệp tại các làng xã, thôn, bản.dạy nghề tại nơi sản xuất, tại hiện trường nơi người lao động làm việc. - Về nguồn lực: Nguồn lực đào tạo nghề chủ yếu do Ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay nguồn ngân sách nhà nước dành cho đào tạo nghề cho lao động nông thôn chưa tương xứng với nhu cầu học nghề của người lao động cũng như yêu cầu tăng quy mô và nâng cao chất lượng dạy nghề của các cơ sở đào tạo.
Mạng lưới cơ sở dạy nghề phát triển ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, số lượng cơ sở dạy nghề rất ít, quy mô dạy nghề nhỏ và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo nghề chưa đáp ứng yêu cầu [3]. Các hình thức đào tạo nghề cho lao động nông thôn Hiện nay có rất nhiều hình thức đào tạo nghề khác nhau, phân theo các tiêu chí khác nhau thì có các hình thức đào tạo nghề khác nhau [3]. Căn cứ vào nghề đào tạo với người học - Đào tạo mới: là hình thức đào tạo đối với người chưa có chuyên môn, chưa có nghề, bắt đầu tham gia vào các lớp học nghề để có được nghề. - Đào tạo lại: là quá trình đào tạo nghề áp dụng cho những người đã có trình độ chuyên môn song vì một lý do nào đó nghề cuả họ không còn phù hợp nữa đòi hỏi phải chuyển sang nghề, chuyên môn khác.
- Đào tạo nâng cao trình độ lành nghề: là tiếp tục bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh nghiệm nơi làm việc để người lao động có thể tiếp tục hành nghề và đảm nhận những công việc phức tạp hơn. Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên môn và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng lên bậc cao hơn [3]. Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề - Đào tạo nghề ngắn hạn: Là hình thức đào tạo nghề được thực hiện từ 01 đến dưới 03 tháng. Theo các chuyên gia, thời gian tối thiểu để có thể truyền đạt kiến thức và kỹ năng nghề đơn giản cũng phải cần tối thiểu 01 tháng.
Kết thúc khóa học, người học được cấp chứng chỉ nghề. - Đào tạo nghề dài hạn: Được thực hiện từ 1-3 năm tại các trường dạy nghề, các trường TH nghề nghiệp, trường cao đẳng, trường ĐH có đủ điều kiện được tổ chức dạy nghề dài hạn theo quy định. Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn so với các lớp đào tạo ngắn hạn [3]. Căn cứ vào trình độ lành nghề Đào tạo nghề trình độ sơ cấp nghề: được thực hiện từ 03 tháng đến dưới 01 năm.
Đào tạo nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề. Kết thúc khóa học nghề, người học được cấp chứng chỉ sơ cấp nghề. - Đào tạo nghề trình độ trung cấp nghề: được thực hiện từ 01 đến 02 năm học tu theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp THPT; từ ba đến bốn năm học tu theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp THCS. Đào tạo nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc.
Kết thúc khóa học nghề, người học được cấp bằng tốt nghiệp TCN. - Đào tạo nghề trình độ cao đẳng nghề: được thực hiện từ 02 đến 03 năm học tu theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp THPT; từ một đến hai năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp TCN cùng ngành nghề đào tạo. Đào tạo nghề trình độ CĐN nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống phức tạp trong thực tế. Kết thúc khóa học nghề, người học được cấp bằng tốt nghiệp CĐN.
Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Khái niệm quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn a. Khái niệm quản lý nhà nước Theo Phan Huy Đường (2017): “QLNN là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối,….để đạt được mục tiêu kinh tế, xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất định. QLNN là sự quản lý xã hội bằng quyền lực nhà nước, ý chí của nhà nước, thông qua bộ máy nhà nước làm thành hệ thống tổ chức điều khiển quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định theo những thời gian nhất định với hiệu quả cao” [4].