Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu lý luận về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài và các yếu tố ảnh hưởng Nghiên cứu những vấn đề lý luận về lao động nước ngoài hay quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài. Trong nhiều tài liệu nghiên cứu về người nước ngoài, người lao động nước ngoài hay lao động di trú như: Cư trú, điều kiện cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam – Thực trạng và kiến nghị của Trung tâm Nghiên cứu khoa học – Viện nghiên cứu lập pháp (2013); Giải thích thuật ngữ về di cư của Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) (2011); Những điều cần biết về người lao động di trú của Hội Luật gia Việt Nam (2008) đều đề cập đến những khái niệm như: “người nước ngoài”, “di cư quốc tế”, “di cư lao động”, “người lao động di trú”… những điều kiện làm việc của người lao động nước ngoài, đặc điểm của người lao động nước ngoài… Đây là những cơ sở lý luận tiền đề, các khái niệm công cụ để nghiên cứu vấn đề người lao động nước ngoài tại Việt Nam.
Theo đó các khái niệm được đề cập đến như: “Di cư quốc tế” (International migration) là sự di chuyển của những người rời nước gốc hoặc nước cư trú thường xuyên để tạo lập cuộc sống mới tại nước khác, kể cả tạm thời hoặc lâu dài. Vì thế họ phải vượt qua một biên giới quốc tế [90, tr. “Di cư lao động” (Labour migration) là sự di chuyển người từ quốc gia này sang quốc gia khác, hoặc trong phạm vi quốc gia cư trú của họ, với mục đích làm việc. Phần lớn các quốc gia đều quy định vấn đề di cư lao động trong Luật di cư.
Ngoài ra một số quốc gia còn đóng vai trò tích cực trong việc điều tiết di cư lao động ra nước ngoài và tìm kiếm cơ hội việc làm cho công dân của họ ở nước ngoài [90, tr. Lao động di trú là một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân, theo đó lao động di trú này gồm tám dạng người là: nhân công vùng biên, nhân công theo mùa, nhân công đi biển, nhân công làm việc ở công trình 8 Luan van trên biển, nhân công lưu động, nhân công theo dự án, nhân công lao động chuyên dụng, nhân công tự chủ” [60, tr. Nghiên cứu về khái niệm “Quản lý nhà nước về lao động chất lượng cao tại Việt Nam”, trong nghiên cứu “Quản lý nhà nước về lao động nước ngoài chất lượng cao ở Việt Nam” – PGS. TS Phan Huy Đường (chủ biên), 2012 – Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội” đề cập “Quản lý nhà nước về lao động nước ngoài chất lượng cao là việc nhà nước xác định mục tiêu và bằng pháp quyền tác động có tổ chức lên các quan hệ và hoạt động của nguồn lao động nước ngoài nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn lao động này, nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước đã đặt ra” [41, tr.
Theo đó, tác giả cũng đề cập đến những nội dung quản lý nhà nước đối với lực lượng này như sau: xây dựng chiến lược mục tiêu quản lý; ban hành hệ thống pháp luật, chính sách quản lý; tổ chức thực hiện chiến lược mục tiêu, pháp luật, chính sách quản lý; kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra những kinh nghiệm quản lý của một số nước như: Singapore, Hàn Quốc, Malaysia là cơ sở thực tiễn, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quản lý đối với người lao động nước ngoài. Nghiên cứu về cơ sở thực tiễn của các nước trong quản lý đối với lao động nước ngoài có các công trình như: Sách tham khảo: “Xuất khẩu lao động của một số nước Đông Nam Á kinh nghiệm và bài học”, Nguyễn Thị Hồng Bích, 2007. Tài liệu này trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về xuất khẩu lao động ở Đông Nam Á.
Trong đó có những vấn đề lý luận về sự dịch chuyển lao động quốc tế như đề cập đến khái niệm thị trường lao động quốc tế, tình hình xuất khẩu lao động trên thế giới: nguyên nhân, tính chất, đặc điểm và các xu hướng xuất khẩu lao động hiện nay (thay đổi về sự dịch chuyển lao động di cư, sự bùng phát di cư bất hợp pháp, nữ hóa di cư…). Tài liệu đã tiến hành khảo sát thực tiễn về tình hình xuất khẩu lao động ở một số nước Đông Nam Á (Malaysia, Philippine, Indonesia, Thái Lan) cụ thể là: chính sách xuất khẩu lao động (cơ sở và quá trình hình thành); công tác tổ chức và xuất khẩu lao động (hệ thống tuyển mộ, công tác đào tạo, chuẩn bị cho nguồn nhân lực, vai trò quản lý của Nhà nước, số lượng xuất khẩu và những thị trường chính…); những vấn đề phát sinh và cách giải quyết. Trên cơ sở đó, các tác giả đã phân tích thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam, chủ trương và đề cập đến những giải pháp hiệu quả cho hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam. 9 Luan van Nghiên cứu về những yếu tố tác động đến lao động nước ngoài hay lao động nhập cư.
Một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài như tại Mỹ, Trung Á hay Anh… chỉ ra các tác động tích cực và tiêu cực từ lực lượng lao động nước ngoài đến tình hình kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội tại các quốc gia tiếp nhận lao động nhập cư như: nghiên cứu “Immigration and education: The crisis and the opportunities – David W. Stewart, New York: Lexington books, 1993” (Nhập cư và giáo dục: Khủng hoảng và cơ hội) công trình này đã cho thấy làn sóng người nhập cư vào nước Mỹ và những vấn đề xã hội kèm theo như luật pháp, việc làm, đặc biệt là vấn đề giáo dục cho những người nhập cư và cho các tầng lớp thanh thiếu niên từ nhiều quốc gia, nhiều ngôn ngữ và nhiều trình độ khác nhau, những khó khăn trong việc giáo dục cho người nhập cư. Báo cáo: “Immigration: A commitment to Australia: The report of the committee to advice on Australia’s immigration policies” - Australia government publishing service, Canberra, 1988. Công trình này nghiên cứu về làn sóng người nhập cư ở Úc, sự tác động của người nhập cư đối với các vấn đề xã hội, kinh tế, dân số ở Úc.
Đồng thời, công trình nghiên cứu này cũng đề cập đến chương trình nhập cư và chính sách cũng như luật pháp của Úc đối với vấn đề này. Bài viết: “Labour Migration into Russia: The Response of State an Soiety” (Lao động di cư vào Nga: Phản hồi của Nhà nước và xã hội) – Tatiana Nikolaevna Yudina. Qua bài viết này, tác giả đã phân tích những vấn đề liên quan đến sự hiện diện của người di cư quốc tế trong thị trường lao động ở Nga. Bài viết cũng cho thấy vai trò của người nước ngoài trong cơ cấu thị trường lao động ở Nga, ảnh hưởng của người di cư.
Bài viết cũng xem xét các biện pháp có thể để điều chỉnh dòng chảy của di cư. Báo cáo: “Labour Migration & Human Development”, International Organization for Migration, 2012. Tài liệu này là báo cáo hằng năm của tổ chức di cư quốc tế, đánh giá về các vấn đề về di cư lao động, hội nhập, hợp tác với cộng đồng hải ngoại và các liên kết giữa phát triển và di cư. Trong đó đánh giá quá trình quản lý di cư, cung cấp chuyên môn kỹ thuật trong các lĩnh vực bao gồm chính sách di cư, thủ tục hành chính, hoạt động, thủ tục, đào tạo và hỗ trợ trực tiếp cho lao động di cư.
Báo cáo khoa học: “Labor Migration, Skills & Student Mobility in Asia” – Ngân hàng phát triển châu Á, 2014. Tài liệu này là báo cáo khoa học của Ngân hàng phát triển châu Á (ADBI) và Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) tọa đàm về di cư lao động ở châu Á kể từ năm 2011. Tài liệu này đề cập đến những vấn đề liên quan đến người nhập cư có tay nghề cao, những thách thức từ sự dịch chuyển lao động có tay nghề cao, bảo vệ các quyền của người lao động nhập cư có tay nghề thấp và những vấn đề về chính sách của các nước trong khu vực châu Á về thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho quốc gia mình. Sách tham khảo: “Di chuyển con người để cung cấp dịch vụ” – Hoàng Yến, Công Sơn, Kiều Anh, Thạc Phương (người dịch), 2004.
Đây là quyển sách tập hợp nhiều bài viết của các tác giả là chuyên gia kinh tế, pháp lý, quản lý, đàm phán trên thế giới được giới thiệu lần đầu tiên ngày 11/4/2002 do Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Thương mại Thế giới phối hợp tổ chức. Với mục đích là đưa ra sự phân tích toàn diện về kinh tế và pháp lý của các vấn đề then chốt trên thế giới hiện nay. Trong đó đề cập đến sự di chuyển lao động trong các Hiệp định Thương mại khu vực, nghiên cứu sự di chuyển lao động giữa các quốc gia như: Mỹ, Ôxtrâylia, Ấn Độ, Thái Lan, Philippines… Từ thực tiễn của các quốc gia trên thế giới trong việc thực hiện các chế độ đối với sự di chuyển lao động quốc tế, đặt ra những bài học cho Việt Nam trong ứng phó với xu thế toàn cầu hóa này trong những năm sắp tới. Sách tham khảo: “Di chuyển lao động quốc tế”, Nguyễn Bình Giang, 2011.
Tài liệu đã trình bày một số vấn đề nổi bật nhất, các xu hướng cơ bản và những tác động chủ yếu của di chuyển lao động quốc tế. Thứ nhất, đề cập đến những vấn đề nổi bật của di chuyển lao động quốc tế trong thập niên đầu thế kỷ XXI bao gồm: sự thành lập của thị trường lao động toàn cầu, sự thành lập và vai trò cũng như hạn chế của các thể chế liên quan đến di chuyển lao động quốc tế, nạn phân biệt đối xử với lao động nước ngoài, liên quan đến sự phối hợp của liên chính phủ trong vấn đề di chuyển lao động quốc tế. Thứ hai, phân tích các xu hướng cơ bản của di chuyển lao động quốc tế thập niên vừa qua.